Chính sách tiền tệ 1: Tiền là gì?

Posted on May 26, 2011 by

0


Op-Economica, 26-5-2011 — Định nghĩa của tiền là điểm xuất phát hợp lý cho các tài liệu cơ bản đề cập tới vấn đề lý thuyết và chính sách tiền tệ. Tuy vậy, có thể nói rằng định nghĩa chính thống và có được sự đồng thuận rộng rãi về tiền tệ vẫn là một vấn đề bỏ ngỏ (hay chưa giải quyết đến nơi đến chốn).

Trên thực tế, ngày nay trên các thị trường tài chính có rất nhiều loại công cụ được sử dụng khiến cho việc định nghĩa tiền ngày càng khó thỏa mãn yêu cầu chặt chẽ về mặt lý thuyết.

Khó khăn thứ nhất là việc phân loại giữa các loại tài sản tài chính được coi như tiền hoặt tựa-tiền và các loại tài sản tài chính chỉ đơn thuần là tài sản tài chính.

Khó khăn thứ hai là dù cho ranh giới hai loại tài sản này được đặt ra chăng nữa – tức là đã giải quyết triệt để khó khăn thứ nhất – thì vấn đề là: trong một lớp các tài sản tài chính coi như tiền hay tựa tiền thì gán cho mỗi tài sản ấy trọng số nào để rồi ta có một khái niệm tiền duy nhất? Đây là vấn đề có tên “tính hợp nhất” (aggregation).

Một cách phổ biến để giải quyết hai vấn đề cơ bản nói trên là sử dụng cách tiếp cận của nhà kinh tế John Hicks, theo đó người ta định nghĩa tiền theo công năng của nó. Hick phát biểu vào năm 1967 như sau: “Tiền chính là công năng của tiền. Tiền được định nghĩa chính bởi các chức năng của nó.”

Cách tiếp cận này có vấn đề là không rõ ràng lắm, và khá lòng vòng (đại khái là muốn hiểu cái này thì phải rõ cái kia, trong khi cả hai đều chưa có sự rõ ràng cần thiết). Vì thế, người ta khắc phục bằng cách đưa ra hai hướng định nghĩa tiền phổ biến trong chính sách tiền tệ hiện nay: a) Tiếp cận kinh tế vi mô – nghĩa là tính toán lượng tiền trong lưu thông; b) Tiếp cận thống kê – kinh tế lượng, theo đó người ta định nghĩa tiền theo các tính chất thống kê phổ biến của các đại lượng gộp tiền tệ thay thế.

Bây giờ ta xét mấy cách vừa nói.

TIẾP CẬN KINH TẾ VI MÔ

Đây là cách có thể dễ hiểu nhất bằng trực giác. Theo cách này, chính sách tiền tệ coi tiền trong lưu thông (currency in circulation) là một bộ phận bắt buộc cấu thành nên tiền tệ (money).

Nguyên lý kinh tế vi mô thể hiện qua phép logic: Nếu tiền trong lưu thông được coi là tiền tệ thì tất cả các tài sản tài chính có tính chất thay thế hoàn hảo cho tiền cũng cần được coi là tiền.

Tiền cơ sở, tồn lượng M1

Trước hết, ta hình dung khái niệm “cơ sở tiền tệ” (monetary base; vẫn thường được gọi tiếng Việt thuận hơn là “tiền cơ sở”) và M1.

Từ góc nhìn của ngân hàng thương mại (NHTM), một phương tiện thay thế hoàn hảo cho đồng tiền lưu thông chính là dự trữ của các NHTM nằm tại tài khoản của ngân hàng trung ương (NHTƯ). Nếu một NHTM cần tiền, họ có thể dễ dàng chuyển từ món dự trữ (R) sang phương tiện thanh toán là tiền (C) hầu như không tốn kém gì.

Nếu ngân hàng nhận thấy họ có quá nhiều tiền so với mức cần thiết, họ làm ngược lại chuyển từ tiền sang dự trữ.

Tiền gửi tại các ngân hàng khác cũng là phương tiện thay thế hoàn hảo cho tiền, tuy vậy khi cộng tổng lại thì tổng này bằng 0.

Tính thay thế hoàn hảo giữa tiền và dự trữ dẫn tới khái niệm quan trọng đầu tiên của “tiền tệ” như sau:

B=C+R.

Nhiều nhà kinh tế xuất sắc của nhân loại có xu hướng coi “tiền cơ sở” (B) là định nghĩa hợp lý nhất của tiền tệ, ít nhất đó là nhà kinh tế lừng danh Tobin (ông phát biểu năm 1980). Sau này chúng ta sẽ chỉ ra rằng tiền cơ sở khác với tất cả các khái niệm tiền khác theo nghĩa bản thân tiền cơ sở là một biến số hoàn toàn ngoại sinh. Các nhà kinh tế mê mẩn “tính ngoại sinh” này và coi đó là phẩm chất quyết định tính chất tiền tệ của tiền cơ sở.

Còn từ quan điểm của các chủ thể kinh tế tư nhân không thuộc nhóm ngân hàng thì sao? Một phương tiện thay thế hoàn hảo – đối với các chủ thể này – là tiền gửi không kỳ hạn. Ngay như ở Việt Nam hiện tại, máy ATM phổ biến khắp nơi, thì việc chuyển từ tiền gửi tài khoản không kỳ hạn sang thành tiền mặt để lưu thông có thể thực hiện rất dễ dàng, hầu như không có chi phí gì đáng kể (các NHTM Việt Nam đang xin tăng chi phí rút tiền mặt từ ATM từ 3.300 đồng lên 5.500 đồng, nhưng đã bị từ chối tới 3 lần và đang cố xin chấp thuận lần cố gắng thứ 4).

Từ góc nhìn này, chúng ta dẫn đến khái niệm tiền tiếp theo – cũng hết sức quan trọng trong lý thuyết tiền tệ – đó là “tồn lượng tiền” (money stock), ký hiệu là M1, được định nghĩa dưới đây:

M1=C+D.

Như vậy, qua B và M1 như trên, ta giải quyết dễ dàng vấn đề “phân loại” nhờ việc đưa ra tiêu chuẩn về tính thay thế hoàn hảo (perfect substitutability). Qua đó, ta cũng có đáp án cho vấn đề “tính hợp nhất”. Nếu các tài sản được đưa vào bất kỳ định nghĩa tiền nào nói trên thì cũng được coi là phương tiện thay thế hoàn hảo, và trọng số của chúng là thừa số của 1.

Các đại lượng gộp tiền tệ mở rộng

Trong chính sách tiền tệ, tồn lượng tiền M1 được coi là chỉ số vĩ mô rất quan trọng, nhưng các ngân hàng trung ương trên thế giới hiện nay còn nhìn cả vào những đại lượng gộp mở rộng ký hiệu M2, M3 và thậm chí cả M4.

Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) sử dụng “giá trị tham chiếu” cho tồn lượng M3 làm căn cứ quan trọng để xây dựng chiến lược chính sách tiền tệ định hướng ổn định.

ECB định nghĩa các thống kê tiền mở rộng này như sau:

M2=M1+D_{Time-2Y}+D_{Savings}. M3=M2+Repo+MMFS/units. mmpaper +Debt_{Securities-2Y}.

(Repo: Các thỏa thuận mua lại tài sản tài chính thế chấp ở NHTƯ; MMFS: Cổ phiếu các quỹ thị trường tiền tệ / Giấy tờ thương mại có thể chuyển nhượng của thị trường tiền tệ)

Các tài sản này đều được gửi tịa các tổ chức tài chính tiền tệ của khu vực đồng Euro.

Thực ra, trên quan điểm kinh tế vi mô thì việc sử dụng M2 và M3 không hẳn có căn cứ chắc chắn, hay rõ rệt. Thực ra không phải tất cả các tài sản như liệt kê trong công thức định nghĩa đều có tính thay thế tiền tệ hoàn hảo, thậm chí còn khó gọi là “gần hoàn hảo”. Tiền trong lưu thông và tiền gửi không kỳ hạn có thể coi như không sinh lãi (không đáng kể) trong các điều kiện thị trường tài chính ổn định, nhưng M2 và M3 thì chắc chắn là chứa các tài sản có sinh lãi đáng kể (ví dụ, tiền gửi kỳ hạn tới 2 năm). Như thế, các đại lượng tiền tệ mở rộng này khiến cho việc giải quyết vấn đề phân loại và hợp nhất trở nên bất phân và rất rắc rối. (Sự rắc rối này không có lợi cho việc đảm bảo tính khoa học của xây dựng chính sách tiền tệ.)

Chỉ số Divisia

Một giải pháp căn bản cho vấn đề “tính hợp nhất” của các đại lượng gộp mở rộng là các đại lượng tiền tệ Divisia dựa trên chỉ số Divisia, đặt theo tên Francois Divisia (1889-1964) – một nhà thống kê học Pháp. Ý tưởng cơ bản của chỉ số Divisia là đưa ra một hệ thống các trọng số gán cho các thành phần cấu tạo nên đại lượng tiền mở rộng, mà hệ thống này có thể phản ánh sự khác biệt về “tính chất tiền tệ”. Những khác biệt này được cho rằng có thể đo được thông qua chi phí của người sử dụng tài sản tài chính.

“Chi phí người sử dụng” được định nghĩa là chi phí cho việc sử dụng một tài sản thanh khoản hơn với mức lợi suất thấp hơn thay vì một tài sản kém thanh khoản hơn nhưng lợi suất cao hơn. Để thực hiện mục tiêu đó, một tài sản tham chiếu – và không được thanh khoản cao về nguyên tắc – cần được định nghĩa. Lợi suất của tài sản đó (R) được coi là chuẩn so sánh. Trên thực tế chuẩn so sánh đó thường là lợi tức của các trái phiếu dài hạn, thường bị xem là các tài sản “kém thanh khoản”. Chi phí người sử dụng (\pi_i) của tất cả các tài sản khác có thể được tính như phần chênh lệch được chiết khấu giữa lợi suất một tài sản i_i và lợi suất tham chiếu:

\pi_i=\frac{(R-i_i)}{1+R}.

Coi các chi phí người sử dụng như “giá” của việc nắm giữ một tài sản tiền tệ, có thể trực tiếp áp lý thuyết chỉ số để giải bài toán tính hợp nhất. Ưu điểm rất lớn của chỉ số Divisia so với các chỉ số thống kê khác (chẳng hạn Laspreyres, Paasche hay Irving Fisher) chính là việc diễn giải rất thuận tiện trên nguyên lý tổng quát: Tốc độ gia tăng của tồn lượng gộp tiền tệ Divisia (D) tương ứng với tổng theo trọng số các tốc độ gia tăng của các tài sản khác nhau. Lấy loga, với i tài sản tiền tệ khác nhau, ta có được:

\ln D_t - \ln D_{t-1}=\sum^{n}_{i=1} s^{*}_{i,t}(\ln m_{i,t} - \ln m_{i,t-1}),

với hệ thống trọng số s^{*}_{i,t} được cho bởi:

s^{*}_{i,t}=\frac{s_{i,t}+s_{i,t-1}}{2}, và

s_{i,\tau}=\frac{\pi_{i,\tau} m_{i,\tau}}{\sum^{n}_{j=1}\pi_{j,\tau} m_{j,\tau}},

trong đó \tau=t-1,t.

TIẾP CẬN TIỀN TỆ THEO CHỨC NĂNG

Thực ra nếu chưa có một khái niệm đủ tốt về tiền tệ, thì có vẻ bàn về chức năng của tiền tệ khó mà sáng rõ. Tuy vậy, đây vẫn là cách tiếp cận phổ biến trong lịch sử lý thuyết tiền tệ. Phần đông các nhà nghiên cứu tránh sự lòng vòng này bằng cách gán cho các chức năng tiền tệ tính hiển nhiên, tới mức không cần phải đúc rút các chức năng đó ra từ lý thuyết nữa. Đó chính là bộ ba quen thuộc:

1) Chức năng phương tiện thanh toán
2) Chức năng phương tiện cất trữ giá trị
3) Chức năng đơn vị tính toán/kế toán

Ta xét qua những chức năng này tiếp theo sau… (Xem tiếp “Tiền là gì” P.2)


* Đóng góp bởi DHVP Research; info@vietnamica.net

About these ads