Dân số tăng quá nhanh mới là nguyên nhân chính khiến lạm phát ngày càng khó trị hơn

Posted on February 20, 2011 by

3


© Op-Economica, 20-2-2011 — Một trong những yếu tố “vật chất” rõ nét nhất – khá đối lập so với sự trừu tượng của “tài chính” – giúp giải thích sức bền của các áp lực lạm phát toàn cầu: Quá trình nở ra quá nhanh của dân số toàn cầu.

Vấn đề thực sự lớn này đã bị bỏ qua trong rất nhiều, nếu không nói là hầu hết, các tác phẩm hiện đại viết về lạm phát và tiền tệ (không rõ vì lý do gì?!). Ngay trong cuốn Free to Choose, Friedman cũng khẳng định điều này: Hoặc quá nhiều tiền theo đuổi số hàng hóa hạn chế, hoặc quá nhiều người tìm kiếm một số lượng hàng hóa hạn chế. Ta đều biết kết cục sẽ giống nhau. Vậy tiền hay người là nguyên nhân đích thực của hiện tượng lạm phát tràn lan?

Các nhà kinh tế quan sát thấy trong một thời gian dài – gần như đã trở thành quy luật xác lập – rằng, các chính sách tiền tệ rất có sức mạnh ở các nước giàu (thường ở Phía Tây và Bắc), trong khi đó ảnh hưởng về quy mô và độ sâu của chính sách tiền tệ lại rất khiêm tốn ở các nước nghèo (thường là Đông và Nam). Đó là vì lý do áp lực dân số quá lớn. Quá nhiều người cạnh tranh giành lấy một lượng lương thực hạn chế.

Thế nên, khi việc giải thích của các nhà trọng tiền theo các mô hình rất “mốt” không giúp làm rõ vấn đề và phương pháp giải cứu, thì hẳn phải xem lại mức tăng nhanh chóng của áp lực thực tế trên nguồn lực xã hội có thể sử dụng, mà nguồn gốc chẳng đâu xa chính là vì quá đông dân. Chúng ta cũng đang được chứng kiến trong giai đoạn 2008-2011 và cả sau đây nữa sự luẩn quẩn của các chính sách tiền tệ, vì rồi thì sức sản xuất, năng lực nền kinh tế mới là cỗ máy để kéo nền kinh tế về các điểm cân bằng ổn định tương đối, chứ không phải cứ bơm tiền ra, rồi hút tiền vào, và loay hoay với mớ hỗn độn lý thuyết pha thực hành của nào thì lãi suất, nào thì OMO, nào thì cứu trợ…

Thực ra, tình trạng này thường bị giải quyết sai, khi lạm phát xuất hiện, mất giá trị đồng tiền, do nó gây áp lực cho các quốc gia nhanh chóng phản ứng sai phương pháp, bằng cách đi tìm lời giải hi vọng nằm sẵn trong các công cụ có thể cóp-pi từ sách vở phương Tây, nhất là sự tưởng tượng về việc có thể “tạo ra những loại tiền và công cụ được kiểm chứng bằng lý thuyết giúp giải tỏa các áp lực.” Nhưng những thứ theo mốt, có sự cổ vũ của tư tưởng sính sách vở tân thời, lại rất được ưa chuộng. Nói thẳng thắn, nhiều kinh tế gia đã không còn nắm được các quy luật mới, cũng vui vẻ a-dua để nói thật hăng, lý giải thật “đời mới” dường như để chứng minh như Triệu Tử Long rằng “Tuổi bảy mươi, sức vẫn cường.”

Rõ ràng, trước vấn đề thực tế, vật chất và hiển hiện như dân số, cách giải quyết bằng lý thuyết trọng tiền rất phổ biến hiện nay rất ảo tưởng và chẳng mấy khi có tác dụng.

Dân số tăng rất nhanh kể từ 1945; tăng hàng năm. Nguồn tài nguyên hữu hạn trên đầu người giảm đi tương ứng. Nhu cầu cá nhân của con người, tuy vậy, lại không bị sự tăng dân số này hạn chế, mà thực tế cũng tăng qua từng năm. Vòng xoáy trôn ốc của lạm phát liên tục gây áp lực. Nhiều người không thích lý thuyết của Malthus, dự báo hơn 200 năm trước, rằng tốc độ tăng năng suất lao động không thể đuổi kịp mức tăng cấp số nhân của dân số. Rất tiếc, chính tốc độ tăng dân đang là mối lo rất lớn của nền kinh tế toàn cầu.

Khoảng năm 1825, dân số loài người tăng lên mốc 1 tỷ; một quá trình được ước lượng diễn ra trong khoảng 1 triệu năm. Thế nhưng chỉ mất có 100 năm để dân số loài người tăng thêm 1 tỷ nữa; đó là vào năm 1925. Đáng kinh ngạc hơn, chỉ từ 1925-1975, dân số loài người đã gấp đôi mức 2 tỷ của 1925, nhanh chóng vọt lên mức 4 tỷ. Giai đoạn 1975-2000, các ước lượng thống kê cho thấy dân số loài người tăng lên thêm 2,26 tỷ; mức tăng tới 55%, và đạt mốc 6,35 tỷ. Vào năm 2008, ước tính dân số loài người đạt khoảng 7,15 tỷ; một con số cực kỳ lớn! Mốc 10 tỷ cũng sẽ không còn xa.

Ngày nay, toàn thế giới đã dỡ bỏ mối liên hệ kinh tế của tiền với một loại hàng hóa có giá trị như vàng hay bạc xưa kia; mà chính loại hàng hóa với giá trị tự thân này đã vận hành với tác dụng như một cơ chế phanh hãm lạm phát. Các quốc gia càng nghèo thì lại được trang bị càng ít vũ khí chống lại sự quản lý yếu kém về tiền tệ; mức lạm phát tới 100% hàng năm không còn là hiện tượng hiếm.

Điều đáng quan ngại là có thể ước đoán được mức tăng dân số đáng kể nhất tập trung ở các quốc gia nghèo và có trình độ phát triển thấp. Bản thân những quốc gia này lại ít có điều kiện và phương tiện để ngăn ngừa hữu hiệu những cơn lốc tàn phá của lạm phát.

Quá trình đô thị hóa nhanh chóng, cơ học và sự đổ dồn dân số về đô thị đã gây áp lực lên các nguồn thu nhập bằng tiền; trực tiếp tiêu dùng cho lượng người mới nhập cư vào đô thị.

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Như thế, đã xuất hiện một phiên bản mở rộng của Hiệu ứng Duesenberry; gọi theo tên của nhà nghiên cứu Duesenberry trong công trình công bố năm 1958(*), phát biểu rằng, hành vi và quy luật tiêu dùng của tầng lớp xã hội cao hơn một bậc kế tiếp chính là đích vươn tới của tầng lớp xã hội ngay dưới. Một cách tự nhiên, sự đô thị hóa với phân cấp sẵn có càng thúc đẩy áp lực tiêu dùng gia tăng nhanh chóng, từ một tầng lớp thu nhập của xã hội lên mức cao hơn, và từ một xã hội nghèo hơn theo đuổi mức tiêu dùng của xã hội giầu có hơn.

Có thể nhìn thấy hiệu ứng này qua quan sát tiêu dùng ở chính Việt Nam, và nạn nhập siêu hoành hành suốt năm 2007, đột biến tăng trong quý 1, 2008, và còn tiếp tục hoành hành suốt 4 năm qua.

Nói như vậy, ta có thể hình dung, nếu cứ chỉ loay hoay mãi với mấy khái niệm đã trở nên cũ kỹ vài năm nay, và lý luận suông giữa mấy chuyên gia tự phong với nhau, thì cuộc chiến chống lạm phát còn cực kỳ nan giải. Sợ nhất chính là lại phải sử dụng chiến lược “Tự nó chấm dứt.” Nếu sử dụng chiến lược này – điều hoàn toàn có thể xảy ra, và đã từng xảy ra nhiều lần, ở nhiều nơi – thì xã hội đang tiêu tốn quá nhiều tài nguyên (tiền bạc, thời gian, công sức…) cho những việc không có kết quả. Chả lẽ không đáng tiếc?!

(*) Hiệu ứng Duesenberry cũng chỉ ra một hệ quả mật thiết là “xã hội nào có tốc độ tăng dân số càng cao, thì khuynh hướng tiêu dùng của xã hội đó càng lớn.” (Duesenberry, J. S. (1958) Business Cycles and Economic Growth, Cambridge, Mass., pg. 265).