Làm sao các kinh tế gia lại nhận thức thảm hại đến vậy (1): Cái đẹp và sự thật

Posted on May 11, 2011 by

1


Bản dịch tiếng Việt © Op-Economica – Lương Minh Hà (Tác giả: Paul Krugman| The New York Times, 2-9-2009) – Giờ thì rất khó mà tin được, nhưng cách đây không lâu, các nhà kinh tế đã tự chúc mừng nhau về chiến công trên lĩnh vực của mình. Những thành công đó – hoặc là họ tin thế – về cả mặt lý thuyết lẫn thực nghiệm, đều dẫn tới một mảnh đất lý tưởng cho những lời tuyên bố.

Trên phương diện lý thuyết, họ cho rằng đã tự giải quyết những tranh cãi trong nội bộ. Do vậy, năm 2008 một nghiên cứu mang tên “Hiện trạng vĩ mô” (có nghĩa là, kinh tế học vĩ mô, bức tranh lớn về các vấn đề như suy thoái kinh tế), bởi Oliver Branchard của MIT, lúc ấy giám đốc kinh tế tại IMF, đã tuyên bố rằng “tình trạng vĩ mô là tốt đẹp”. Cuộc chiến xảy ra năm trước, ông cho rằng, đã kết thúc, và đang có “một loạt viễn cảnh chung”. Và trên thế giới thực, các nhà kinh tế tin rằng họ có những cái mà có thể kiểm soát được: vấn đề trọng tâm của việc ngăn ngừa suy thoái đã được giải quyết”, Robert Lucas của trường đại học Chicago đã phát biểu như vậy trong bài diễn văn của mình trước Hiệp hội Kinh tế Mỹ năm 2003.

Năm 2004, Ben Bernanke, giáo sư của Đại học Princeton, người mà hiện đang là chủ tịch FED, đã hoan nghênh sự Điều hành vĩ đại trong hoạt động kinh tế hơn hai thập kỷ qua, mà ông cho rằng một phần do việc tạo chính sách kinh tế tiến bộ.

Nhưng năm ngoái, mọi thứ trở nên khác hẳn.

Chỉ có một vài chuyên gia kinh tế nhận ra cuộc khủng hoảng hiện nay đã đến gần, nhưng thất bại trong dự báo chỉ là một phần nhỏ nhất của vấn đề. Phần nghiêm trọng hơn đó chính là sự đui mù của các chuyên gia đối với khả năng chắc chắn của những thất bại mang tính đổ vỡ lớn trong kinh tế thị trường. Những năm tháng huy hoàng đó, các nhà kinh tế tài chính trở nên rất tin tưởng rằng thị trường vốn đã ổn định – thực sự, rằng chứng khoán và các tài sản khác luôn luôn được định giá đúng. Không có bất cứ điều gì trong các mô hình thuyết phục đó gợi đến một khả năng xảy ra những kiểu sụp đổ như đã xảy ra hồi năm ngoái. Trong khi ấy, giới kinh tế học vĩ mô đã tách biệt về quan điểm.

Nhưng phần lớn vẫn là giữa những người khăng khăng cho rằng thị trường tự do không bao giờ lầm lối và số khác tin rằng bây giờ các nền kinh tế có thể chưa đúng hướng nhưng sau đó bất cứ sự chia tách sai lệch đáng kể nào cũng sẽ có thể được nắn chỉnh bởi thế lực uy quyền của FED. Cả hai đều không được phòng bị để đương đầu với những diễn biến kinh tế hỗn loạn dù cho FED là trợ lực tốt nhất.

Và khi cơn khủng hoảng thức giấc, miệng những tuyên ngôn kinh tế lầm đường lạc lối đã há rộng hơn bao giờ hết. Lucas nói rằng các gói kích thích chính phủ của Obama là “thứ rác rưởi kinh tế”, và John Cochrane, cộng sự của ông ở trường Chicago cho rằng những thứ đó được dựa trên “những câu chuyện hư cấu” chẳng đáng tin. Đáp lại, Brad DeLong của trường Đại học California, Berkeley, đã viết về “sự sụp đổ trí thức” của trường Chicago, và tự tôi cũng đã viết rằng những bình luận từ các nhà kinh tế học ở Chicago là sản phẩm của Thời kỳ Đen tối của kinh tế học vĩ mô mà ở đó thắng lợi khó khăn của trí tuệ đã bị bỏ quên.

Chuyện gì đã xảy ra với những tuyên ngôn kinh tế? Và từ đây chúng sẽ đi tới đâu?

Tôi thấy rằng, những tuyên ngôn kinh tế đi sai lối là do các nhà kinh tế, lập thành các nhóm, đã nhầm lẫn cái đẹp, được che phủ bởi những chiếc áo toán học trông rất ấn tượng, và sự thật. Trước cuộc Đại suy thoái, hầu hết các nhà kinh tế đều bấu víu vào một viễn cảnh về một hệ thống hoàn hảo hay gần như hoàn hảo của chủ nghĩa tư bản. Viễn cảnh ấy đã không thể chống đỡ nổi trước thất nghiệp hàng loạt, nhưng khi những ký ức của cuộc Đại suy thoái trải ra, các nhà kinh tế đã quay ra yêu thích một viễn cảnh cổ xưa, được lý tưởng hóa về một nền kinh tế mà ở đó duy lý cá nhân ảnh hưởng lẫn nhau trong những thị trường hoàn hảo, khoác lên đó những phương trình toán học hoa mỹ. Làm mới lại sự ảo tưởng với thị trường lý tưởng đã, chắc chắn, một phần là phản ứng lại luồng gió chính trị đổi mới, một phần là phản ứng lại những động lực tài chính. Nhưng trong khi những kỳ nghỉ nghiên cứu ở Viện Hoover hay các cơ hội nghề nghiệp ở Phố Wall là những thứ không thể xem thường, thì nguyên nhân chính gây ra những tuyên ngôn sai lầm đó chính là sự ngưỡng mộ với một phương pháp cực kỳ duyên dáng đầy tri thức và cũng cho các nhà kinh tế được dịp phô trương năng lực toán học của mình.

Rủi thay, viễn cảnh lãng mạn và sạch sẽ này của nền kinh tế đã khiến hầu hết các nhà kinh tế học loại trừ tất cả mọi thứ mà có thể đi tới sai lầm. Họ chuyển con mắt mù mờ tới sự hạn chế của duy lý cá nhân, cái mà thường dẫn tới bong bóng và vỡ nợ; tới những vấn đề mà các định chế hành động điên loạn; tới sự không hoàn hảo của thị trường – đặc biệt là thị trường tài chính – mà có thể khiến cho hệ thống vận hành nền kinh tế hứng chịu những đổ vỡ đột ngột, không thể dự báo trước, và với cả những hiểm họa do những người điều hành không tin tưởng vào sự điều hành của chính mình.

Thật khó mà nói từ đây những tuyên ngôn kinh tế sẽ đi tới đâu. Nhưng phần chắc chắn nhất là họ sẽ phải học cách để chung sống với những xáo trộn bừa bãi. Có nghĩa là họ sẽ phải cảm ơn tầm quan trọng của những cư xử phi lý và đôi khi bất ngờ, đối diện với những đặc tính thường không mấy hoàn hảo của các thị trường và chấp nhận rằng “Lý thuyết của Tất cả” (Theory of Everything) sẽ còn là một con đường dài. Trong thực nghiệm, điều đó sẽ đưa đến những tư vấn chính sách cẩn trọng hơn – và cắt giảm sự sẵn sàng dỡ bỏ những phương tiện kinh tế phòng vệ vì tin rằng thị trường sẽ giải quyết tất cả mọi vấn đề.

(*) Tiếp theo: Từ Smith đến Keynes và ngược lại

————-

* Người dịch: Lương Minh Hà – Giảng viên, Khoa Tài chính – Học viện Ngân hàng (Hà Nội).

* Bài gốc: Paul Krugman, “How Did Economists Get it So Wrong?”, The New York Times, 2-9-2009.

Advertisements