Làm sao các kinh tế gia lại nhận thức thảm hại đến vậy (2): Từ Smith đến Keynes và ngược lại

Posted on May 11, 2011 by

3


Bản dịch tiếng Việt © Op-Economica – Lương Minh Hà (Tác giả: Paul Krugman | The New York Times, 2-9-2009) – Việc sinh ra kinh tế học như một môn học thường được ghi nhận công lao cho Adam Smith, người đã cho xuất bản cuốn “Nguồn gốc của cải của các quốc gia” (The Wealth of Nations) năm 1776. Trải qua 160 năm, sự mở rộng đối với các học thuyết kinh tế đã được phát triển, mà trọng tâm thông điệp là: tin tưởng vào thị trường.

Vâng, các nhà kinh tế đã tự nhận là có những tình huống mà thị trường công bằng, trong đó những gì quan trọng nhất là “các ngoại ứng” – chi phí mà con người gây nên cho những người khác mà không phải trả tiền, chẳng hạn như tắc đường hay ô nhiễm. Nhưng căn cứ cơ bản của kinh tế học “tân cổ điển” (được đặt tên sau khi những học giả cuối thế kỷ 19 soạn thảo các khái niệm của những người tiền nhiệm cổ điển trước đó) chính là chúng ta nên đặt niềm tin vào hệ thống thị trường.

Tuy nhiên, niềm tin này, đã bị tiêu tan bởi cuộc Đại suy thoái. Thực vậy, thậm chí cả khi đối diện với sự sụp đổ toàn hệ thống, một vài nhà kinh tế vẫn cứ khăng khăng là bất cứ điều gì xảy ra trên thị trường kinh tế nhất định phải đúng: “suy thoái không chỉ đơn giản là những con quỷ dữ”, Joseph Schumpeter đã tuyên bố như vậy năm 1934 – vâng 1934! Chúng, ông thêm vào, “là những dạng thức của cái gì đó phải được làm”. Nhưng rất nhiều, thậm chí là hầu hết, nhà kinh tế chuyển sang những học thuyết của John Maynard Keynes đối với cả những diễn giải cho điều đang xảy ra lẫn giải pháp cho những suy thoái trong tương lai.

Keynes đã không, mặc dù có thể bạn đã nghe, muốn chính phủ điều hành nền kinh tế. Ông đã mô tả những phân tích của mình trong một tác phẩm lớn của ông năm 1936, “Lý thuyết tổng quát về việc làm, Lãi suất và Tiền tệ” (The General Theory of Employment, Interest and Money) như “sự duy trì ở mức vừa phải đối với những gợi ý”.

Ông muốn sửa chữa chủ nghĩa tư bản, chứ không  muốn thay thế nó. Nhưng ông đã rất khó khăn với ý niệm rằng nền kinh tế thị trường tự do có thể tự điều hành mà không cần người coi giữ, sự coi khinh ấy đặc biệt là đối với thị trường tài chính, mà dưới con mắt của Keynes, đang bị áp đảo bởi sự đầu cơ ngắn hạn với ít ỏi sự hướng tới các quy tắc căn bản. Và ông đã vận động sự can thiệp chủ động của chính phủ – in thêm tiền và, nếu cần thiết, chi tiêu mạnh cho khu vực công – để chiến đấu với thất nghiệp trong suốt giai đoạn khủng hoảng.

Rất đáng để lưu tâm rằng Keynes đã làm nhiều hơn là chỉ khắc sâu những khẳng định của mình. “Lý thuyết tổng quát” là một công trình phân tích uyên thâm, sâu sắc – phân tích thuyết phục cả những nhà kinh tế học lớn, hiện đại nhất. Và câu chuyện kinh tế hơn một nửa thập kỷ qua vẫn là câu chuyện, ở mức độ rộng lớn, của sự rút lui từ chủ nghĩa Keynes và quay lại chủ nghĩa Tân cổ điển.

Sự hồi sinh tân cổ điển đã được khởi động bởi Milton Friedman của Đại học Chicago, người đã quả quyết vào đầu năm 1953 rằng kinh tế học tân cổ điển làm việc đủ tốt khi mô tả về con đường mà nền kinh tế thực sự vận động là “sự tự tin có thừa vừa thực sự màu mỡ vừa xứng đáng”. Nhưng suy thoái khủng hoảng thì sao?

Sự tấn công liên tiếp của Friedman chống lại Keynes bắt đầu với học thuyết chủ nghĩa được biết đến bằng tên gọi Chủ nghĩa trọng tiền (monetarism). Những người trọng tiền không bất đồng với nguyên tắc mà ở đó ý tưởng rằng một nền kinh tế thị trường cần sự ổn định cẩn trọng. “Bây giờ chúng tôi đều là những người theo Keynes”, Friedman một lần nữa tuyên bố, dù rằng sau đó ông đã tự cho là mình đã bị tách khỏi khung cảnh đó. Tuy nhiên, những người trọng tiền tự khẳng định rằng một dạng thức rất hạn chế, cụ thể về những can thiệp của chính phủ – được gọi tên như vậy, chỉ thị cho các ngân hàng trung ương duy trì cung tiền của quốc gia, tổng tiền trong lưu thông và tiền gửi ngân hàng, tăng trưởng ở một mức độ ổn định – là tất cả những gì được yêu cầu để ngăn ngừa suy thoái.

Rất hay, Friedman và cộng sự của mình – Anna Schawrtz, đã tranh luận rằng nếu FED thi hành công việc của họ một cách hợp lý, thì cuộc Đại suy thoái đã không xảy ra. Sau đó, Friedman đã đưa ra một tình huống thuyết phục chống lại bất cứ ảnh hưởng cẩn trọng nào bởi chính phủ để hạ tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức “tự nhiên” của nó (vào khoảng 4.8% ở Mỹ lúc bấy giờ): những chính sách mở rộng quá mức, ông dự đoán, sẽ dẫn đến một sự pha trộn giữa lạm phát và thất nghiệp cao – một dự đoán đã được chứng thực bằng thời kỳ suy thoái kèm lạm phát trong những năm 1970, đẩy cao uy tín đối với những chuyển động chống lại tư tưởng của Keynes.

Tuy nhiên, cuối cùng, cuộc phản cách mạng chống tư tưởng Keynes đã đi quá xa từ Friedman, vị trí mà dường như đã trở nên trung lập một cách tương đối so với những gì mà những người kế nghiệp ông đã phát biểu. Trong số những nhà kinh tế học, nhãn quan xem thường của Keynes về các thị trường tài chính như một “sòng bạc” đã được thay thế bởi học thuyết “thị trường hiệu quả”, cái mà khẳng định rằng các thị trường tài chính luôn luôn định giá tài sản đúng khi cho sẵn những thông tin hiện hữu.

Trong khi ấy, rất nhiều nhà kinh tế học vĩ mô đã tuyệt đối chối bỏ những lập luận cơ sở của Keynes đối với cách hiểu  về các giai đoạn suy thoái kinh tế. Một vài người đã quay trở lại quan điểm của Schumpeter và một số nhà biện giải tôn giáo về cuộc Đại suy thoái, cho rằng những suy giảm là điềm tốt, là một phần của những điều chỉnh của nền kinh tế để thay đổi. Và thậm chí những ai không sẵn lòng đi quá xa như vậy cũng tranh luận rằng bất cứ cố gắng nào chống lại suy thoái kinh tế sẽ có hại hơn là có lợi.

Không phải tất cả các nhà kinh tế học vĩ mô đều sẵn lòng đi trên con đường này: rất nhiều người đã trở thành hình mẫu mô phỏng của Keynes, những người tiếp tục tin tưởng vào vai trò thiết thực của chính phủ. Thậm chí hầu hết vẫn chưa chấp nhận ý niệm rằng các nhà đầu tư và người tiêu dùng là có tư duy thích hợp và các thị trường thường hành động đúng.

Đương nhiên, vẫn có những ngoại trừ đối với những xu hướng này: một số ít các nhà kinh tế đã gặp khó khăn với giả thiết về những hành vi phù hợp, nghi vấn về niềm tin rằng các thị trường tài chính có thể tin tưởng được và tập trung vào một thời kỳ lịch sử dài của các cuộc khủng hoảng tài chính mà đã phá hủy các hệ quả kinh tế. Nhưng họ đã lại một lần nữa bơi trong dư luận, không thể mở ra con đường đầy tiến bộ để chống lại sự thỏa mãn ngập tràn và, trong quá khứ, sự tự thỏa mãn ngu ngốc.

* Bài trước: Sai lầm kinh tế (1): Cái đẹp và sự thật

* Bài kế: Sai lầm kinh tế (3): Lạc quan quá mức

———

* Người dịch: Lương Minh Hà – Giảng viên, Khoa Tài chính – Học viện  Ngân hàng (Hà Nội).

* Bài gốc: Paul Krugman, “How Did Economists Get it So Wrong?”, The New York Times, 2-9-2009.