Làm sao các kinh tế gia lại nhận thức thảm hại đến vậy (3): Lạc quan quá mức (*)

Posted on May 12, 2011 by

1


Bản dịch tiếng Việt © Op-Economica – Lương Minh Hà  (Tác giả: Paul Krugman| The New York Times, 2-9-2009) Trong những năm 1930, các thị trường tài chính, vì những lý do hiển nhiên, đã không nhận được nhiều tôn trọng. Keynes đã so sánh điều đó với “những cạnh tranh của báo giới trong đó các đối thủ phải chọn ra những bộ mặt xinh đẹp nhất từ hàng trăm bức ảnh, giải thưởng sẽ được trao cho người có lựa chọn gần tương ứng nhất với sở thích chung của toàn bộ các đối thủ; do đó mỗi đối thủ sẽ phải lựa chọn, không phải những bức ảnh mà ông ta cho là đẹp nhất, mà là những bức ảnh mà ông ta cho là được ưa thích nhất để bắt kịp thị hiếu của các đối thủ khác”.

Và Keynes đã cho rằng đó là ý tưởng tồi tệ khi để những thị trường như vậy, trong đó các nhà đầu cơ dùng thời gian để theo đuôi những kẻ khác, và tuyên bố những quyết định kinh doanh quan trọng: “Khi sự phát triển vốn của một quốc gia trở thành một sản phẩm phụ của các hoạt động của một sòng bạc, công việc chắc sẽ thành vô nghĩa”.

Khoảng 1970, tuy nhiên, những người nghiên cứu về các thị trường tài chính dường như đã bị thống trị bởi tư tưởng “Tiến sĩ Pangloss” của Vontaire, người đã quả quyết rằng chúng ta đang sống trong thế giới tốt nhất của tất cả các thế giới có thể có. Bàn luận về sự duy lý của nhà đầu tư, về bong bóng, về sự tích lũy hủy diệt đã hầu như không còn xuất hiện trong các bài giảng hàn lâm. Lĩnh vực đã bị lấn át bởi “học thuyết thị trường hiệu quả”, được truyền bá bởi Eugene Fama của Đại học Chicago, với luận điệu cho rằng các thị trường tài chính định giá các tài sản một cách chính xác giá trị nội tại của tài sản đó với các thông tin hiện hữu được công bố công khai. (Giá cổ phiếu của một công ty, chẳng hạn, luôn luôn phản ánh một cách xác đáng giá trị của công ty đó với các thông tin hiện hữu về công ty như thu nhập, triển vọng kinh doanh và những thứ tương tự). Và tới những năm 1980, các nhà kinh tế tài chính, đáng chú ý là Michael Jensen của trường Đại học Harvard, đã tranh luận rằng chính vì các thị trường tài chính luôn luôn định giá đúng, cái tốt nhất mà những người đứng đầu các công ty có thể làm, không chỉ cho bản thân họ mà còn vì lợi ích của cả nền kinh tế, là tối đa hóa giá cổ phiếu của họ. Nói cách khác, các nhà kinh tế tài chính tin rằng chúng ta nên đặt nguồn vốn phát triển quốc gia trong tay cái mà Keynes vẫn gọi là “sòng bạc”.

Thật khó mà từ chối rằng sự chuyển dời trong các tuyên ngôn đã được thúc đẩy qua các sự kiện. Thật vậy, hồi ức về năm 1929 đã dần lùi xa, những sẽ vẫn còn những thị trường giá lên (bull-market), với hàng loạt câu chuyện về đầu cơ quá mức, và sau đó là các bear-market. Trong năm 1973-4, chẳng hạn, các chứng khoán đã mất 48% giá trị. Và trong cuộc đỗ vỡ chứng khoán năm 1987, mà chỉ số Dow đã lao dốc 23% trong vòng một ngày mà chẳng có lý do rõ ràng, sẽ làm tăng ít nhất một phần nghi ngờ về sự duy lý của thị trường.

Tuy vậy, những sự kiện này, mà Keynes sẽ coi như là minh chứng của sự bất tín của thị trường, đã góp một phần làm cùn đi động lực về một ý tưởng đẹp đẽ. Mô hình lý thuyết mà các nhà kinh tế tài chính đã phát triển bằng cách giả định rằng mọi nhà đầu tư đều điều chỉnh rủi ro và các  phần bù rủi ro một cách duy lý – mà vẫn gọi là mô hình định giá tài sản vốn hay CAPM (đọc là cap-em) – trang nhã tuyệt vời. Và nếu bạn chấp nhận những giả định của mô hình, nó sẽ cực kỳ hữu dụng. CAPM không chỉ cho chúng ta biết cách chọn lựa danh mục đầu tư – mà thậm chí còn quan trọng hơn dưới giác độ tài chính, nó cho chúng ta biết làm thế nào để định giá các công cụ tài chính phái sinh. Sự duyên dáng và hiển nhiên đầy hữu ích này của mô hình mới đã đưa đến một chuỗi giải thưởng Nobel cho những người sáng tạo ra nó, và rất nhiều người tinh thông về học thuyết cũng nhận được nhiều phần thưởng trần tục hơn: được trang bị với những mô hình mới của họ và các kỹ năng toán học ghê gớm – việc sử dụng rắc rối hơn của CAPM yêu cầu những tính toán ở mức duy vật – các giáo sư hạng trung ở trường kinh doanh đã có thể và đã trở thành những nhà khoa học thần tốc ở Phố Wall, giành thu nhập từ hàng vô số các thanh toán phiếu phố Wall.

Công bằng mà nói, những nhà lý luận tài chính không chấp nhận giả thuyết thị trường hiệu quả đơn thuần bởi nó quá đỗi đẹp đẽ, tiện dụng và có khả năng tạo lợi nhuận. Họ cũng làm ra một vụ giao dịch lớn về các bằng chứng thống kê, và dường như lần đầu tiên đem lại sự khích lệ mạnh mẽ. Nhưng chứng cứ này chỉ là một dạng hữu hạn lẻ loi. Họ hiếm khi hỏi những câu hỏi dường như hiển nhiên (mặc dù không dễ để trả lời) về việc liệu rằng các mức giá của tài sản tạo ra những ý nghĩa mang lại cho thế giới thực những cơ sở như thu nhập. Thay vào đó, họ chỉ hỏi liệu giá của tài sản tạo ra những ý nghĩa cho giá của tài sản khác hay không. Larry Summer, hiện là nhà tư vấn kinh tế hàng đầu cho cơ quan quản lý của Obama, đã từng chế nhạo các giáo sư tài chính với một truyện ngụ ngôn về “các nhà kinh tế sốt cà chua nấm” những người “đã cho thấy chai hai lít (Anh) sốt cà chua chỉ có thể bán bằng một cách chính xác là gấp đôi các chai 1 lít”, và kết luận rút ra là thị trường sốt cà chua là hiệu quả đến hoàn hảo.

Nhưng cả sự nhạo báng này lẫn những phân tích phê bình lịch sự hơn của các nhà kinh tế như Robert Shiller của Đại học Yale đều không mấy ảnh hưởng. Những nhà lý luận tài chính vẫn không ngừng tin tưởng rằng các mô hình của họ đã đúng một cách thiết thực, và cũng nhờ thế, có rất nhiều người đã ra các quyết định trong thế giới thực. Đặc biệt, Alan Greenspan là một trong số đó, ông là người mà sau đó trở thành chủ tịch FED và một thời gian dài ủng hộ việc dỡ bỏ các quy định điều tiết tài chính, sự chối bỏ của ông đối với những lời kêu gọi về việc thiết lập các khuôn phép cho vay dưới chuẩn hay chỉ ra những bong bóng nhà cửa luôn kèm lạm phát chiếm một phần lớn niềm tin rằng kinh tế tài chính hiện đại có thể kiểm soát mọi thứ. Năm 2005, có một cuộc trò chuyện ngắn, tại một hội thảo được tổ chức để tôn vinh nhiệm kỳ của Greenspan tại FED. Raghuram Rajan, một người dự khán can đảm (của đại học Chicago, thật ngạc nhiên), đã đưa ra một nghiên cứu cảnh báo rằng hệ thống tài chính đã và đang vận hành trên mức độ rủi ro tiềm ẩn cực kỳ nguy hiểm. Ông đã bị chế nhạo bởi hầu như toàn bộ những người có mặt, có cả, Larry Summers, người đã bác bỏ lời cảnh cáo ấy và cho đó là “xúi bẩy”.

Tuy nhiên, tháng 10 năm ngoái, Greenspan đã thừa nhận rằng ông ta đã trải qua một trạng thái “bị sốc lòng tin”, bởi “toàn bộ công trình trí thức lớn” đã “đổ vỡ”. Khi sự đổ vỡ về công trình trí thức này cũng là sự sụp đổ của các thị trường trên thế giới thực, thì kết quả là một cuộc suy thoái trầm trọng – trầm trọng nhất, theo rất nhiều tiêu chí, kể từ cuộc Đại suy thoái. Những nhà hoạch định chính sách nên làm gì? Không may là, kinh tế học vĩ mô, cái mà có thể cung cấp những định hướng rõ ràng về cách thức xác định rõ nền kinh tế đang suy thoái, lại chỉ ở trong tình trạng hỗn loạn.

(*) Nguyên văn: Panglossian Finance: Để chỉ nền tài chính lạc quan quá mức – lấy ý tưởng từ các nhân vật theo tư tưởng của tiến sĩ Pangloss trong tác phẩm Cadide, ou I’Optimisme (1759) của Voltaire (1694-1778).

* Bài trước: “Từ Smith đến Keynes và ngược lại.

———–

* Người dịch: Lương Minh Hà – Giảng viên, Khoa Tài chính – Học viện  Ngân hàng (Hà Nội).

* Bài gốc: Paul Krugman, “How Did Economists Get it So Wrong?”, The New York Times, 2-9-2009.

Advertisements