Làm sao các kinh tế gia lại nhận thức thảm hại đến vậy (4): Vấn đề vĩ mô

Posted on May 13, 2011 by

1


Bản dịch tiếng Việt © Op-Economica – Lương Minh Hà (Tác giả: Paul Krugman| The New York Times, 2-9-2009) “Chúng ta đang tự vướng vào một vết nhơ lớn, phá vỡ sự điều hành của một cỗ máy mỏng manh, mà cơ chế hoạt động của nó thì chúng ta không hiểu. Kết quả là những khả năng có thể có về phí phạm của cải trong một thời gian – có lẽ là trong thời gian dài.” John Maynard Keynes đã viết như vậy trong một bài phân tích có tên là “Cuộc Đại suy thoái 1930” (The Great Slump of 1930), trong đó ông đã cố gắng giải thích sự đổ vỡ mà sau đó đã lan ra toàn thế giới. Và những khả năng có thể về hoang phí của cải của cả thế giới đã thực sự xảy ra trong cả một khoảng thời gian dài; phải mất cả cuộc Đại chiến thế giới lần II thì cuộc Đại suy thoái này mới thực sự chấm dứt.

Tại sao dự đoán của Keynes về Đại suy thoái như “một vết nhơ lớn” lại hấp dẫn đến vậy ngay từ đầu? Và tại sao vào khoảng 1975, kinh tế học lại chia làm hai trường phái đối lập qua quan điểm của Keynes?

Tôi muốn giải nghĩa bản chất của kinh tế học theo tư tưởng của Keynes bằng một câu chuyện thực mà cũng như một giai thoại, một phiên bản về sự hỗn độn ở quy mô nhỏ mà có thể làm sầu lòng các nền kinh tế. Hãy xem sự vận hành của Hợp tác xã trông trẻ đồi Capitol (the Capitol Hill Baby-Sitting Co-op).

Tổ chức này, mà vấn đề của nó đã được thuật lại chi tiết trong một bài báo năm 1977 trên Tạp chí Tiền tệ, Tín dụng và Ngân hàng (the Journal of Money, Credit and Banking), được thành lập bởi 150 cặp vợ chồng trẻ trong đó một cặp nhận trông giúp trẻ cho một cặp vợ chồng khác khi họ có nhu cầu đi ra ngoài. Để đảm bảo rằng tất cả các cặp vợ chồng đều công bằng trong việc trông trẻ, hợp tác xã đưa ra một dạng giống như các chứng khoán ngắn hạn: các phiếu làm bằng hai mảnh giấy có trọng lượng,  mỗi mảnh giấy đó tương đương khoảng thời gian một tiếng rưỡi đồng hồ trông trẻ. Ban đầu, các thành viên đều nhận được 20 phiếu cho việc tham gia tổ chức và được yêu cầu hoàn trả lượng phiếu này khi rời khỏi tổ chức.

Tuy nhiên, có tình huống xảy ra đó là các thành viên của hợp tác xã, tính trung bình, muốn nắm giữ một lượng phiếu dự trữ nhiều hơn con số 20, phòng khi họ muốn vắng nhà liên tục. Và do đó, sẽ có một lượng người ít hơn tương ứng muốn sử dụng chứng khoán của mình và đi ra ngoài, trong khi nhiều người lại có nhu cầu trông trẻ vì họ muốn mở rộng hơn khả năng tích trữ của mình. Nhưng cơ hội trông giữ trẻ chỉ tăng lên khi có ai đó muốn ra ngoài dạo chơi, điều đó có nghĩa là công việc trông trẻ rất khó kiếm, khiến cho các thành viên của hợp tác xã này thậm chí càng miễn cưỡng phải đi chơi, làm cho công việc trông giữ trẻ càng trở nên khan hiếm…

Nói tóm lại, hợp tác xã đã rơi vào khủng hoảng.

Rồi, bạn nghĩ thế nào về câu chuyện này? Đừng chê bai rằng nó ngu ngốc hay tầm thường: nhiều nhà kinh tế đã dùng những ví dụ nho nhỏ để từ ấy làm tỏa sáng những câu hỏi lớn suốt từ khi Adam Smith nhận ra gốc rẽ của sự tiến triển về kinh tế trong một nhà máy đinh ghim, và họ đã đúng khi làm vậy. Câu hỏi đặt ra là liệu với một ví dụ cụ thể, trong đó khủng hoảng là vấn đề về nhu cầu không được đáp ứng – không có đủ cầu cho việc trông trẻ để cung cấp phiếu cho những người cần có phiếu – có là bản chất của những gì xảy ra đối với một cuộc khủng hoảng.

Bốn mươi năm trước, hầu hết các nhà kinh tế đều sẽ đồng ý với sự can thiệp này. Nhưng kể từ đó kinh tế học vĩ mô đã phân tách thành hai bộ phận lớn: các nhà kinh tế “nước mặn” (chủ yếu là các trường đại học ven biển nước Mỹ), những người đã ít nhiều dựa trên quan điểm của Keynes về những gì diễn ra trong các cuộc suy thoái; và các nhà kinh tế “nước ngọt” (phần lớn ở các trường trong đất liền), cho rằng vấn đề này là vô nghĩa.

Các nhà kinh tế nước ngọt, bản chất, thuần túy theo trường phái tân cổ điển. Họ tin tưởng rằng tất cả các phân tích kinh tế đáng làm bắt đầu từ giả định con người là duy lý và các thị trường vận hành đúng, một tiền đề bị nhiễm bởi câu chuyện về hợp tác xã giữ trẻ. Và như họ thấy, sự khan hiếm về cầu tổng thể là không có, bởi vì các mức giá luôn có xu hướng đạt tại mức cung bắt gặp cầu tương ứng. Nếu người tiêu dùng muốn có thêm phiếu, giá trị của chúng sẽ tăng lên, và trị giá của chúng cũng thế, giả sử, 40 phút trông trẻ đắt hơn 1 tiếng rưỡi – hoặc là, tương đương, chi phí cho một tiếng đồng hồ trông trẻ sẽ giảm từ 2 phiếu xuống còn 1.5. Và điều đó sẽ giải quyết vấn đề: khả năng mua phiếu trong lưu thông sẽ phải tăng lên và do đó người tiêu dùng sẽ cảm thấy không cần thiết tích trữ thêm nữa, từ đấy sẽ chẳng có suy thoái nào hết.

Nhưng có phải suy thoái giống như các thời kỳ trong đó chỉ có cầu không đủ để cho mọi người sẵn sàng làm việc? Những gì hiện diện có thể đánh lừa, các nhà kinh tế nước ngọt phát biểu. Ý nghĩa kinh tế học, trong con mắt của họ, cho rằng toàn bộ thất bại của cầu không thể xảy ra – và điều đó có nghĩa là chúng không xảy ra. Những người theo Keynes đã “chứng minh sai”, Cochrane, Đại học Chicago, phát biểu.

Nhưng suy thoái thì không thế. Tại sao? Trong những năm 1970, Robert Lucas,  người đứng đầu các nhà kinh tế vĩ mô thuộc trường phái nước ngọt, trúng giải Nobel, đã tranh luận rằng các cuộc khủng hoảng có nguyên nhân bởi các bất ổn nhất thời: người lao động và các công ty đã gặp vấn đề khi phân biệt những thay đổi trong các mức giá bởi lạm phát hay giảm phát từ các thay đổi về tình trạng kinh doanh cụ thể của bản thân chúng. Và Lucas đã cảnh báo rằng bất cứ cố gắng nào chống lại chu kỳ kinh doanh sẽ trở nên phản tác dụng: các chính sách chính trị, ông tranh luận, sẽ chỉ làm mọi sự rắc rối thêm.

Tuy nhiên, đến những năm 1980, thậm chí những đồng thuận ít ỏi này về ý tưởng rằng suy thoái là cái gì đó tồi tệ đã bị chối bỏ bởi các nhà kinh tế nước ngọt. Thay vào đó, những người dẫn đầu tư tưởng mới, đặc biệt là Edward Prescott, người mà sau đó  là thành viên của Đại học Minnesota (bạn có thể xem đâu là nơi xuất thân của những người nước ngọt), đã tranh luận rằng những bất ổn về giá và thay đổi về cầu thực sự chẳng tác động gì tới chu kỳ kinh doanh. Hơn nữa, chu kỳ kinh doanh phản ánh những dao động về tỷ lệ phát triển trình độ kỹ thuật, cái mà được nâng cao bởi những cải tiến của công nhân, những người tự nguyện làm việc nhiều hơn khi môi trường xung quanh thuận lợi và ít hơn khi môi trường bất lợi. Nghỉ việc là một quyết định thận trọng của các công nhân để giành thời gian.

Nếu tồi tệ như thế, lý thuyết này thật ngớ ngẩn – liệu cuộc Đại suy thoái có thật là một Kỳ nghỉ lớn? Và thực thà mà nói, tôi cho rằng điều đó thực sự xuẩn ngốc. Nhưng giả định cơ bản trong lý thuyết về “chu kỳ kinh doanh” của Prescott đã được nhúng vào những mô hình toán học được xây dựng một cách tài tình, những mô hình đã được ánh xạ vào những dữ liệu thực trong việc sử dụng các công cụ thống kê ngụy biện, và lý thuyết đã chi phối việc giảng dạy kinh tế học vĩ mô trong nhiều khoa, trường đại học. Năm 2004, thể hiện tầm ảnh hưởng của lý thuyết này, Prescott đã chia sẻ một giải Nobel với Finn Kydland của Đại học Carnegie Mellon.

Trong khi ấy, các nhà kinh tế nước mặn chần chừ. Khi những người nước ngọt theo chủ nghĩa thuần túy, thì những người nước mặn lại là những người theo chủ nghĩa thực dụng. Khi những nhà kinh tế như N. Gregory Mankiw ở Harvard, Oliver Blanchard của MIT và David Romer của Đại học California, Berkeley, đã công nhận rằng thật khó mà dung hòa quan điểm về cầu suy thoái theo trường phái Keynes với lý thuyết tân cổ điển, họ tìm thấy những bằng chứng cho thấy rằng khủng hoảng, thực sự, gây bởi cầu quá ư hấp dẫn để mà chối bỏ. Vì vậy họ đã sẵn sàng đi chệch hướng khỏi giả thiết thị trường hiệu quả hoặc sự duy lý tuyệt đối, hay cả hai, thêm vào là sự bất hoàn hảo vừa đủ để ít nhiều tương thích với quan điểm của Keynes về suy thoái kinh tế. Và dưới nhãn quan của những người nước mặn, chính sách can thiệp nhằm chống lại khủng hoảng vẫn rất đáng giá.

Nhưng các nhà kinh tế tự phỏng theo quan điểm Keynes hiện đại đã không thoát khỏi ảnh hưởng của tư tưởng về sự duy lý cá nhân và thị trường hiệu quả. Họ đã cố gắng duy trì hướng đi lệch với bản chất tân cổ điển ít nhất có thể. Có nghĩa là không có chỗ trong các mô hình đang thịnh hành đối cho những thứ như bong bóng hay sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng. Thực tế mà những thứ như vậy tiếp tục xảy đến trong thế giới thực – đó là những cơn khủng hoảng tồi tệ về tài chính và kinh tế vĩ mô ở Châu Á trong những năm 1997-8 và giai đoạn suy giảm ở mức khủng hoảng tại Argentina năm 2002 – đã không được phản ánh trong hệ thống tư tưởng chủ đạo của những người theo Keynes mới.

Dù vậy, bạn có thể nghĩ rằng những quan điểm khác biệt của các nhà kinh tế nước mặn và nước ngọt sẽ đặt họ vào thế luôn bất đồng với các chính sách kinh tế. Tuy nhiên, một chút ngạc nhiên là, khoảng giữa 1985 và 2007 thì cuộc tranh luận giữa bên các nhà kinh tế nước ngọt và nước mặn chỉ chủ yếu về lý thuyết, chứ không phải hành động. Lý do, mà tôi tin, đó là những người theo trường phái Keynes hiện đại, không giống với những người vốn theo tư tưởng Keynes truyền thống, không cho rằng chính sách tài khóa – sự thay đổi chi tiêu chính phủ và thuế – là cần thiết để chống suy thoái. Họ đã tin rằng chính sách tiền tệ, được quản lý bởi các chuyên gia của FED, có thể cung cấp các phương thuốc mà nền kinh tế cần. Vào sinh nhật lần thứ 90 của Milton Friedman, Ben Bernanke, ít nhiều đã từng là một giáo sư theo quan điểm Keynes hiện đại ở Princeton, và sau đó là thành viên của ban điều hành FED, tuyên bố về cuộc Đại suy thoái: “Bạn đã đúng. Chúng tôi đã làm thế. Chúng tôi rất xin lỗi. Nhưng nhờ thế, điều đó sẽ không tái diễn nữa”. Thông điệp rõ ràng là tất cả những gì bạn cần để loại trừ suy thoái là một FED thông thái hơn.

Và cùng với các chính sách vĩ mô rời khỏi bàn tay của nhạc trưởng vĩ đại Greenspan, mà không có các chương trình kích thích theo trường phái Keynes, các nhà kinh tế nước ngọt đã ít than phiền hơn. (Họ không tin là chính sách tài khóa có ích một tí nào, nhưng họ cũng không tin là chúng có hại.)

Phải xảy ra khủng hoảng thì mới thấy được mảnh đất chung nhỏ bé thế nào và kinh tế học theo trường phái Keynes hiện đại đã trở nên lạc quan quá mức ra sao.

—————-

* Người dịch: Lương Minh Hà – Giảng viên, Khoa Tài chính – Học viện Ngân hàng (Hà Nội).

* Bài gốc: Paul Krugman, “How Did Economists Get it So Wrong?”, The New York Times, 2-9-2009.