Làm sao các kinh tế gia lại nhận thức thảm hại đến vậy (6): Các gói kích thích

Posted on May 16, 2011 by

0


Bản dịch tiếng Việt © Op-Economica – Lương Minh Hà (Tác giả: Paul Krugman | The New York Times, 2-9-2009) Giữa 1985 và 2007, một sự tĩnh lặng giả tạo đã được thiết lập trong các lĩnh vực kinh tế vĩ mô. Không có bất cứ một quan điểm thống nhất thật sự giữa hai phái người nước ngọt và nước mặn. Nhưng đây là quãng thời gian Ổn định lớn – một giai đoạn điều tiết kéo dài mà trong suốt quá trình đó lạm phát được kiềm chế và suy thoái ở mức nhẹ. Các nhà kinh tế nước mặn đã tin rằng FED có thể kiểm soát mọi thứ. Còn các nhà kinh tế nước ngọt thì không cho rằng những động thái của FED thực sự đem lại lợi ích, nhưng họ cũng sẵn sàng để yên mọi thứ.

Nhưng rồi cuộc khủng hoảng đã chấm dứt sự bình yên giả tạo đó. Đột nhiên các chính sách chính trị kỹ thuật thu hẹp trên cả hai mặt đã sẵn sàng để thông qua đã không còn đáp ứng đủ – và nhu cầu có một chính sách nới rộng hơn đáp lại những xung đột đáp lại những xung đột đã xảy đến, trở nên dữ dội hơn bao giờ hết.

Vì sao những chính sách kỹ trị, thu hẹp đó lại không đáp ứng đủ? Câu trả lời, ngắn gọn, là con số không.

Trong một cuộc suy thoái thông thường, FED hành động bằng cách mua các Trái phiếu kho bạc – một dạng nợ ngắn hạn của chính phủ – từ các ngân hàng. Động thái này khiến cho lãi suất các khoản nợ chính phủ hạ xuống; nhà đầu tư tìm kiếm lợi suất cao sẽ chuyển tới các tài sản khác, làm cho các lãi suất khác cũng hạ theo; và thường những lãi suất thấp này sẽ dẫn tới những hồi phục của nền kinh tế. FED đối phó với suy thoái bắt đầu vào 1990 bằng cách đẩy lãi suất ngắn hạn từ 9% xuống còn 3%. FED cũng làm tương tự với cuộc suy thoái năm 2001 bằng cách hạ lãi suất từ 6.5% xuống mức 1%. Và FED đã cố gắng giải quyết tình trạng suy thoái hiện thời bằng cách hạ lãi suất từ 5.25% xuống mức 0.

Nhưng lãi suất 0%, là mức tối thiểu, vẫn chưa đủ thấp để chấm dứt cuộc khủng hoảng này. Và FED đã không thể khiến cho lãi suất xuống dưới mức 0, bởi ở mức tiệm cận 0, nhà đầu tư sẽ đơn thuần nắm giữ tiền mặt hơn là cho vay chúng. Do đó mà đến cuối năm 2008, với mức lãi suất mà về cơ bản các nhà kinh tế vĩ mô gọi là “hạn mức dưới không” (zero lower bound) thì khi cuộc suy thoái tiếp tục dấn sâu hơn, chính sách tiền tệ theo lệ thường đã mất toàn bộ sức điều chỉnh.

Thế còn bây giờ? Đây là lần thứ hai nước Mỹ mở lại hạn mức dưới 0, lần trước là vào cuộc Đại Suy thoái. Và thật đúng khi quan sát rằng chính mức lãi suất dưới không đã khiến Keynes biện minh cho chính sách chi tiêu công cao hơn: khi chính sách tiền tệ không hiệu quả và khu vực tư nhân không thể theo đuổi việc chi tiêu nhiều hơn, thì khu vực công phải chứng tỏ vai trò chống đỡ nền kinh tế. Những kích thích tài khóa chính là câu trả lời của những người theo Keynes với tình trạng kinh tế suy thoái mà chúng ta đang hứng chịu.

Những tư tưởng kiểu Keynes này đã làm nền tảng cho các chính sách điều tiết kinh tế của Obama – và các nhà kinh tế nước ngọt phát điên. Trong 25 năm hoặc chừng đó họ đã cam chịu những tác động của FED nhằm điều hành nền kinh tế, nhưng sự bùng phát trở lại tư tưởng của Keynes là thứ gì đó khác biệt hoàn toàn. Trở lại năm 1980, Lucas, Đại học Chicago, đã viết rằng kinh tế học theo quan điểm của Keynes là rất lố bịch và rằng “ở các cuộc hội thảo nghiên cứu, người ta chẳng coi trọng lý thuyết của Keynes chút nào hết; người nghe chỉ huýt sáo và cười đùa với nhau”. Việc thừa nhận Keynes đã gần như đúng toàn bộ, sau cùng, là sự sa sút cực kỳ đáng hổ thẹn.

Và do vậy Cochrane của Đại học Chicago, đã xúc phạm ý kiến cho rằng chi tiêu chính phủ có thể làm giảm bớt cuộc suy thoái gần nhất, tuyên bố: “Đó không phải là một phần của những cái mà mọi người đã dạy cho những sinh viên đại học kể từ 1960”. Chúng [các tư tưởng theo trường phái Keynes] thực ra là những câu chuyện đã được chứng minh sai. Thật dễ chịu nếu những thời gian căng thẳng chúng ta quay lại với các câu chuyện kể đã nghe khi còn trẻ con, nhưng điều đó không làm cho chúng ít sai lầm hơn.” (Một điểm đáng lưu ý là sự phân tách giữa trường phái nước ngọt và nước mặn rất sâu sắc, mà Cochrane lại cho rằng “mọi người” không dạy những tư tưởng, thật sự, đã được giảng dạy ở những nơi như Priceton, MIT hay Harvard).

Trong khi đó, các nhà kinh tế nước mặn, những người đã tự mình thoả mãn với niềm tin rằng sự tách biệt lớn trong kinh tế học vĩ mô đang dần thu hẹp, đã bị sốc khi nhận ra phe nước ngọt chẳng được lắng nghe gì hết. Các nhà kinh tế nước ngọt, những người đã công kích mạnh mẽ các gói kích thích đã không được xem như những nhà thông thái mà đã phá tan các lập luận trường phái Keynes và chứng tỏ rằng chúng xuẩn ngốc. Hơn nữa, họ lại giống với những người bàng quan đối với những tư tưởng mà những người theo Keynes đề cập tới, những người đã khôi phục trước 1930 những ảo tưởng trong niềm tin rằng họ đang nói về cái gì đó uyên thâm và tân tiến.

Và không chỉ có riêng tư tưởng của Keynes là bị bỏ quên. Như Brad DeLong của Đại học California, Berkeley, đã chỉ ra trong những than phiền của ông về “sự sụp đổ trí thức” của Đại học Chicago, và cả quan điểm của ngôi trường này nói chung là sự chối bỏ hàng loạt các quan điểm của Milton Friedman. Friedman tin rằng các chính sách của FED hơn là những thay đổi trong chi tiêu chính phủ nên được dùng để ổn định nền kinh tế, nhưng ông không hề khẳng định rằng một sự tăng lên trong chi tiêu công không thể, trong bất cứ tình huống nào, làm tăng việc làm xã hội. Thực vậy, xem lại những tổng kết về các ý kiến của Friedman năm 1970, “Cơ sở lý thuyết về phân tích tiền tệ” (A Theoretical Framework for Monetary Analysis), điểm nổi bật đó chính là dường như các phân tích “rất Keynes”.

Và Friedman chắc chắn không đề cập tới ý tưởng trong đó thất nghiệp lớn là đại diện của sự suy giảm tự nguyện về việc làm hay tư tưởng mà suy thoái thực sự là điều tốt cho nền kinh tế. Nhưng những thế hệ mới của phe nước ngọt vẫn tiếp tục những tranh luận đó. Do vậy mà Casey Mulligan của Đại học Chicago gợi ý rằng thất nghiệp là quá cao do nhiều người lao động tự lựa chọn không tìm kiếm việc làm: “Người lao động đối diện với những động lực tài chính mà thúc đẩy họ không làm việc… việc làm giảm xuống được giải thích nhiều hơn bởi sự suy giảm về cung lao động (sự sẵn sàng làm việc của người lao động) và ít hơn bởi từ phía cầu (lượng lao động mà chủ doanh nghiệp có nhu cầu thuê mướn).” Mulligan cũng đưa ra rằng, trong trường hợp cụ thể, người lao động sẽ chọn tiếp tục không có việc làm bởi vì điều đó làm tăng cơ hội nhận trợ cấp của họ. Và Cochrane tuyên bố là tỷ lệ thất nghiệp cao là rất tốt: “Chúng ta sẽ có suy thoái. Những người thợ đang chỉ biết có đóng đinh ở Nevada cần những việc khác để làm.”

Cá nhân tôi cho rằng điều đó thật điên rồ. Tại sao chỉ có thất nghiệp lớn trên toàn quốc mới khiến những người thợ mộc phải rời khỏi Nevada? Ai dám thừa nhận một cách nghiêm túc là chúng ta đã mất 6.7 triệu việc làm bởi có ít người Mỹ muốn làm việc? Nhưng vẫn là những âm thanh quen thuộc từ các nhà kinh tế nước ngọt khi họ sẽ tự mắc bẫy trong bước đường cùng này: nếu bạn bắt đầu từ giả thiết rằng người tiêu dùng hoàn toàn duy lý và thị trường là hoàn hảo, bạn sẽ phải kết luận thất nghiệp là tự nguyện và suy thoái cũng là điều đáng ước ao.

Nếu cuộc khủng hoảng vẫn chưa đưa những nhà kinh tế nước ngọt đến sự xuẩn ngốc, thì nó cũng khiến cho hàng loạt nhà kinh tế nước mặn phải tự vấn lương tâm mình. Lý thuyết mà họ vin vào, không giống như Đại học Chicago, đều cho phép khả năng có thể đối với thất nghiệp tự nguyện và cân nhắc chúng như một vấn đề tiêu cực. Nhưng những mô hình theo Keynes hiện đại đã trở nên áp đảo các giả định nghiên cứu và giảng dạy cho rằng hành động con người là duy lý và thị trường tài chính là hiệu quả. Để mang tất cả mọi thứ như cuộc suy thoái hiện tại vào trong các mô hình, những người theo Keynes hiện đại được trợ lực để giới thiệu một vài loại nhân tố tránh né mà vì một vài lý do nào đó không xác định rõ được sự suy giảm tạm thời trong chi tiêu ở khu vực tư nhân. (Tôi đã làm xong một cách chính xác trong một vài công trình của mình.) Và nếu các phân tích về nơi mà chúng ta đang ngự trong các nhân tố này, thì chúng ta sẽ tự tin như thế nào trong dự đoán của các mô hình về nơi mà chúng ta sẽ đi tới?

Tóm lại, tình trạng vĩ mô là không ổn. Vậy thì từ đây các tuyên bố kinh tế sẽ đi tới đâu?

——————

* Người dịch: Lương Minh Hà – Giảng viên, Khoa Tài chính – Học viện Ngân hàng (Hà Nội).

* Bài gốc: Paul Krugman, “How Did Economists Get it So Wrong?”, The New York Times, 2-9-2009.