Làm sao các kinh tế gia lại nhận thức thảm hại đến vậy (7): Bất đồng và rạn nứt

Posted on May 17, 2011 by

0


Bản dịch tiếng Việt © Op-Economica – Lương Minh Hà (Tác giả: Paul Krugman | The New York Times, 2-9-2009) Kinh tế học, một lĩnh vực, đã có vấn đề bởi vì các nhà kinh tế đã bị quyến rũ bởi viễn cảnh về hệ thống thị trường hoàn hảo, không hề có rạn nứt. Nếu các tuyên bố là để tự thực hiện, nó sẽ phải tự dung hòa một viễn cảnh ít hấp dẫn hơn – của nền kinh tế thị trường mà có rất nhiều công dụng nhưng cũng đóng góp không ít các sai lầm, va vấp.

May mắn là chúng ta có một khởi đầu lành lặn. Dù cho trong suốt thời kỳ hưng thịnh của quan điểm thị trường hiệu quả, vẫn có hàng loạt công việc được thực hiện theo các cách mà ở đó nền kinh tế thực tách ra khỏi các ý tưởng lý thuyết. Bây giờ những gì có có khả năng nhất – thực sự, nó đang xảy ra rồi – là những bất đồng và xích mích trong kinh tế học sẽ di chuyển dần từ bên ngoài các phân tích kinh tế tới trung tâm của chúng.

Có một ví dụ được phát triển tốt trên thực tế bởi loại hình kinh tế học mà tôi đang suy nghĩ tới: ngôi trường của tư duy được biết đến với tên gọi tài chính cư xử có đạo đức. Những người giàu kinh nghiệm về phương pháp tiếp cận này nhấn mạnh hai điểm. Một là, rất nhiều nhà đầu tư thực tế có chút gì giống với những người suy tính điềm tĩnh của lý thuyết thị trường hiệu quả: họ đều rất dễ dồn nén hành vi, dễ có hàng loạt những hồ hởi vô lý và cả những hoang mang vô cớ. Thứ hai, thậm chí họ mà cố gắng đặt cơ sở của các quyết định lên những tính toán cẩn trọng lại thường cho thấy họ không thể làm điều đó, những vấn đề về niềm tin, hy vọng và ký quỹ bị hạn chế đẩy họ vừa kinh doanh vừa dồn nén hành vi.

Ở vấn đề đầu tiên: thậm chí trong thời kỳ cường thịnh của học thuyết thị trường hiệu quả, dường như đúng khi cho rằng các nhà đầu tư trong thế giới thực không duy lý như những mô hình đã giả định. Larry Summers đã từng bắt đầu một bài viết về tài chính bằng tuyên bố: “ĐÓ LÀ SỰ NGU DỐT. Hãy nhìn xung quanh mà xem.” Nhưng chúng ta đang nói về kiểu ngu ngốc (từ ngữ được ưa thích trong các tài liệu hàn lâm, thực ra là “những tay buôn mất trật tự”) nào thế? Tài chính cư xử có đạo đức, mà trên những chuyển động quy mô lớn hơn được biết đến với tên gọi kinh tế có đạo đức, cố gắng để trả lời câu hỏi đó bằng việc liên hệ những phi lý hiển nhiên của các nhà đầu tư  với những lệch lạc đã biết trong nhận thức con người, giống như khuynh hướng quan tâm nhiều hơn tới những thua lỗ nhỏ hơn là những lợi ích nhỏ hay trào lưu suy đoán một cách quá dễ dàng từ các ví dụ nho nhỏ (chẳng hạn, việc giả sử là giá nhà sẽ tiếp tục tăng bởi vì chúng đã tăng nhiều năm rồi).

Cho tới khi khủng hoảng diễn ra, những người biện hộ cho lý thuyết thị trường hiệu quả như Eugene Fama mới từ bỏ minh chứng được sản sinh nhân danh nền tài chính cư xử có đạo đức như việc sưu tầm các “vật lạ”mà thực tế chẳng quan trọng chút nào. Đó là tình thế đã khó khăn hơn nhiều lúc bấy giờ để duy trì mà sự đổ vỡ của quả bóng lớn – bong bóng đã được chuẩn đoán bởi chính các nhà kinh tế đạo đức như Robert Shiller của Đại học Yale, người đã nối kết nó với phần “quá hồ hởi phi lý” trước đó – đã đưa nền kinh tế thế giới tới những khúc ngoặt trong lịch sử.

Về vấn đề thứ hai: giả sử là có những tên ngốc thật. Thì họ gây rắc rối nhiều không? Không nhiều, Milton Friedman đã tranh luận trong một bài báo hữu dụng năm 1953: những nhà đầu tư thông minh sẽ kiếm tiền bằng cách mua chúng khi những người thiếu thông minh bán đi và sẽ bán tiền khi họ mua và sẽ làm cho thị trường ổn định trong quá trình đó. Nhưng vấn đề thứ hai này về hành vi tài chính có đạo đức cho rằng Friedman đã sai lầm, rằng thị trường tài chính đôi khi có những bất ổn lớn, và bây giờ thì quan điểm đó dường như khó mà chối bỏ được.

Bài viết có uy lực nhất về vấn đề này hầu như đã được xuất bản năm 1997 bởi Andrei Shleifer của Đại học Harvard và Robert Vishny của Đại học Chicago, nhấn mạnh việc chính thức hóa quan điểm trước đó về “thị trường có thể lưu lại sự phi lý lâu hơn là bạn có thể duy trì sự hòa tan.” Và họ đã chỉ ra, những người kinh doanh chênh lệch giá – những người chuyên mua thấp và bán cao – cần vốn để kinh doanh. Và một sự lao dốc nghiêm trọng trong giá các tài sản, thậm chí nếu chúng không có chút ý nghĩa nào về mặt nguyên lý kinh tế, sẽ rút hết vốn của họ. Kết quả là, những đồng tiền thông minh bị đẩy ra rìa thị trường, và giá thì có thể đi vào một trôn ốc xoáy xuống.

Phạm vi của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay dường như giống với một bài học mục tiêu về cơn nguy kịch của những bất ổn tài chính. Và các ý kiến thường đặt ra các mô hình về sự bất ổn tài chính đã được chứng minh có tính phù hợp cao với cho các chính sách kinh tế: tập trung vào lượng vốn bị rút khỏi các định chế tài chính đã giúp định hướng các hoạt động chính sách sau vụ sụp đổ của Lehman, và dường như (hãy cầu nguyện đi) những hành động đó đã thành công trong việc chấm dứt việc lập các kỷ lục phá sản tài chính.

Trong khi ấy, kinh tế học vĩ mô thì sao? Những sự kiện gần đây đã bác bỏ gần như dứt khoát ý niệm rằng suy thoái là một phản ứng tối ưu với những dao động bất thường trong tỷ lệ cải tiến công nghệ; một quan điểm ít nhiều theo trường phái Keynes là trò chơi có vẻ hợp lý duy nhất trong thị trấn. Nhưng những mô hình theo trường phái Keynes hiện đại vẫn chưa có chỗ cho khủng hoảng giống như cái chúng ta đang phải đối mặt, bởi vì những mô hình đó thường chấp nhận quan điểm thị trường hiệu quả đối với khu vực tài chính.

Nhưng vẫn có những loại trừ. Một hướng nghiên cứu, mà dẫn đầu không ai khác là Ben Bernanke với Mark Gertler của trường Đại học New York, đã nhấn mạnh rằng cách thức ký quỹ không đủ  có thể là nhân tố cản trở khả năng các tăng vốn kinh doanh và theo đuổi các cơ hội đầu tư. Và một hướng nghiên cứu có liên quan, phần lớn được xây dựng bởi cộng sự  của tôi tại Princeton, Nobuhiro Kiyotaki và John Moore của Khoa Kinh tế Đại học London, đã tranh luận rằng giá cả của các tài sản như bất động sản có thể đủ để tự làm tăng lên những cú lao dốc làm suy thoái toàn bộ nền kinh tế. Nhưng cho đến giờ ảnh hưởng của tài chính thiếu chức năng vẫn chưa là cái cốt lõi, kể cả những ảnh hưởng của kinh tế học theo tư tưởng Keynes. Rõ ràng, điều đó phải thay đổi.

Phần kết: Sự trở lại của Keynes

——————

* Người dịch: Lương Minh Hà – Giảng viên, Khoa Tài chính – Học viện Ngân hàng (Hà Nội).

* Bài gốc: Paul Krugman, “How Did Economists Get it So Wrong?”, The New York Times, 2-9-2009.