Tại sao việc trích dẫn nghiên cứu trong khoa học lại quan trọng

Posted on March 15, 2012 by

1


© Op-Economica, 15-3-2012 — Dĩ nhiên, tôi viết đoạn suy nghĩ này, nhiều nhà khoa học sẽ coi là không cần thiết, vì đối với họ sự cần thiết là hiển nhiên. Tuy vậy, tôi cho đây là cách giới thiệu với đông đảo mọi người, mà không nhất thiết ai cũng quen với các chuẩn mực học thuật. Ngoài ra, cũng có vài suy nghĩ riêng muốn đóng góp nữa.

Thống kê:

50% độ bẹt ngón tay của các nhà nghiên cứu là do… trích dẫn tài liệu. Vậy có thể “nhìn độ bẹt, đoán tâm hồn”

— Nguồn: Tự điền.

Đối với những người nghiên cứu, hiếm có ai lại không phải trích dẫn của người khác. Một trang nghiên cứu thường theo chuẩn mực gọn gàng súc tích nhất có thể, nôm na là “không thừa – không thiếu” và vì thế mỗi trang ấy rất hàm súc về nội dung. Cũng có nghĩa là, phải kế thừa, vay mượn hay sử dụng lại các kết quả của người khác. Trích dẫn là việc tối thiểu, bắt buộc và đầu tiên phải làm.

Tiếp theo, mỗi nghiên cứu sẽ đề ra các mục tiêu rõ ràng, mục tiêu ấy hẳn nhiên phải để đem lại kiến thức mới, hiểu biết mới và/hoặc cách nhìn mới. Tóm lại là mới. Vậy làm sao để biết là ta vừa làm ra “cái mới” đây? Tôi đồ là chỉ có một cách, rất đơn sơ và quen thuộc: Biết hết hay hầu hết các kết quả quan trọng đã có là gì rồi.

Sự đàng hoàng và minh bạch khoa học nằm ở chỗ, để chứng minh rằng ta đã rà soát đủ ta buộc phải liệt kê những thứ tài liệu và nghiên cứu đã có, càng chi tiết càng tốt (ví dụ thậm chí có khi cần chỉ ra số trang trong một tập nghiên cứu, hay đôi khi trích nguyên văn một số câu quan trọng…).

Lại nữa, một mục tiêu của nghiên cứu là phải chứng minh được cái mới hữu ích, do đó rà soát cái cũ còn phải chứa cả tinh thần phản biện – nhất là ở các phần về tổng quan lý thuyết. Tinh thần phản biện thể hiện ở chỗ, không phải chỉ đọc và dẫn chú để nói lên cái hay cái đẹp của tác giả trước, mà còn nhắm đến chỉ ra chỗ nào chưa được, yếu về lập luận hay bằng chứng, thiếu căn cứ hay còn những khía cạnh liên quan chưa đề cập… Vậy rà soát tổng quan này là mảnh đất màu mỡ cho các ý tưởng mới. Như thế, ý nghĩa của trích dẫn không giới hạn trong việc “tôn trọng và đánh giá cao” các tác giả đi trước.

Khi tiến hành nghiên cứu có kết quả, ta lại còn hay cần so sánh, đối chiếu để tìm sự khác biệt về phương pháp hay nhận thức. Giống/không giống, mới/không mới, có liên quan/không liên quan, v.v..

Một chức năng không kém phần quan trọng của trích dẫn là qua đó, người biên tập (editor) có thể căn cứ vào đó để đánh giá: Nghiên cứu này đã thực sự nghiêm túc với vấn đề hay chưa. Nếu chưa thì nhanh chóng loại bỏ nghiên cứu này khỏi vòng ngắm nghía (vì tỷ lệ đăng các tạp chí khoa học nói chung là thấp 3-30% số bài nộp vào, thực ra 30% đã là hiếm).

Hơn thế nữa, khi editor phân bổ cho peer reviewer, họ cần thông tin từ dẫn chiếu đó để tìm người đọc phản biện cho phù hợp.

Ngoài ra, với sự tuân thủ hay bất tuân chuẩn mực dẫn chiếu, các vị editors cũng dễ dàng tìm ra các tay đạo văn hơn. Tỷ lệ đăng bài có đạo văn ở các nước có nền khoa học phát triển rất thấp. Lâu lắm mới tìm được một vụ, mà tìm được thì họ làm lớn chuyện lắm.

Việc dẫn chiếu, ngoài theo tiêu chuẩn đạo đức của giới nghiên cứu ra – nghĩa là phải đầy đủ thông số để editor và reviewer có thể tìm được đến tài liệu – thì còn phải theo chuẩn của từng nhà xuất bản/tạp chí khoa học, thường được gọi là house-style. Phần lớn các nhà xuất bản coi việc chỉnh sửa bản thảo theo chuẩn house style họ đặt ra mặc nhiên là việc của tác giả. Một số khác còn yêu cầu typesetting bài nghiên cứu theo chuẩn và package đã có sẵn, ví dụ Latex…

Sơ bộ qua đó, tôi thấy mấy điều này:

Thứ nhất, nếu các tác giả VN làm theo và tuân thủ chuẩn mực nói trên, sẽ gần như ngay lập trức triệt tiêu phần lớn nạn đạo văn đang hoành hành.

Thứ hai, nếu những editor và reviewer Việt Nam có trách nhiệm, thì chỉ cần sử dụng Internet thôi, đã có thể loại bỏ một mớ đông các sp trí tuệ dỏm, đi trộm cắp của thiên hạ. (Ý tôi nói những cái dễ tìm, chứ họ trộm tinh vi quá thì cũng khó lần mò ra dấu vết, hay như việc cải sửa bất lương số liệu thì phải khó khăn lắm mới tìm ra được.)

Thứ ba, sẽ không thể có tạp chí khoa học tốt nếu không có tác giả tuân thủ tốt chuẩn mực nói trên, và không có reviewer có trách nhiệm thực sự với chất lượng sản phẩm. Ngược lại, chỉ cần có hai yếu tố trên, tự chất lượng đã được tăng lên đáng kể (do các sp kém chất lượng sẽ tự động không đủ chuẩn để nộp vào xét duyệt).

Thứ tư, việc làm này không hề gây tốn kém tiền của hay tổn thất cho ai cả.

Khổ nỗi, những việc này để là chuẩn mực tối thiểu của nhà khoa học/nghiên cứu, vậy tại sao nghe ra có vẻ cao cấp mà xa xôi thế nhỉ?

Cũng nói thêm, có một số người nói với tôi rằng, việc trích dẫn này như kiểu “tầm chương trích cú” vậy, không nên quá o ép nhau. Tôi nghĩ họ thật nhầm lẫn. Tầm chương trích cú là thứ ám chỉ kiểu học và dẫn Nho giáo thời xưa. Là kiểu “vô cải bất tác” lấy cái có sẵn làm chân lý tuyệt đối, và như vậy bản chất là tôn vinh cái cũ – kể cả sai lầm. Nhưng trích dẫn KH ta đang nói đạt các mục tiêu như đã bàn, phải coi là động lực tiến bộ vì phục vụ đắc lực việc tìm kiếm kiến thức và hiểu biết mới, soi rọi vào chỗ tối tăm đang còn sót lại. Thế nên không thể coi là giống nhau được!

Advertisements