Chân dung của ‘tính sáng tạo’

Posted on March 22, 2012 by

0


Op-Economica, 22-3-2012 — Cá nhân là đối tượng quan tâm của các nghiên cứu về sáng tạo trong một thời kỳ dài với các công trình của John-Steiner (1997), Runco và Richards (1997), Sternberg (1999), Runco (2004), v.v.. Từ rất lâu trước đó, Klein (1982) đã tiến hành khảo sát các từ và cụm từ thường được dùng để mô tả khái niệm ‘sáng tạo’ với đối tượng phỏng vấn rất đa dạng gồm từ nhà văn, nhạc sỹ tới nhà khoa học xã hội tới học sinh trung học. Kết quả thu được là một tập hợp phong phú từ ngữ.

Dẫu vậy, đặc tính và hành vi của các cá nhân sáng tạo vẫn có thể được xếp vào các nhóm sau:

1) Khả năng tối đa các lựa chọn và mở rộng nhận thức về các hành vi thay thế;

2) Khả năng chấn nhận các ý kiến và ý tưởng hợp lý và tự loại bỏ thiên kiến ở mọi cấp độ;

3) Trở nên không nhất quán hoặc “… hoang dã hơn và có văn hóa hơn, phá phách hơn và xây dựng hơn, điên rồ hơn và chừng mực hơn so với người bình thường” – Barron (1963);

4) Tìm kiếm tự do từ các quy tắc và thói quen;

5) Thiên về hành động với sự tập trong không chỉ dành cho suy nghĩ về những ý tưởng tốt mà quan trọng là thực thi những ý tưởng đó;

6) Khả năng nhận thức cả thế giới bên trong lẫn bên ngoài theo nghĩa con người thuộc về đâu, họ có muốn ở đó không, họ muốn  đi tới đâu và họ làm sao để tới nơi mình muốn;

7) Có trách nhiệm và nhận trách nhiệm với các nhu cầu của chính mình và của thế giới;

8) Có định hướng tích cực tự tăng cường nhận thức và tự tin của bản thân;

9) Sẵn sàng chấp nhận và đương đầu với rủi ro: nỗ lực né tránh rủi ro có thể dẫn tới kết cục thiếu động lực tăng trưởng, hạn chế tầm nhìn phát triển và đời sống tẻ nhạt.

Klien đưa ra một mô hình ba chiều nhằm xác định các nhân tố tạo nên hành vi sáng tạo ở mỗi cá nhân, gồm (i) dạng thức của hành vi (ví dụ: kinh nghiệm), nội dung của hành vi (vd: năng lực nhận thức); và quá trình của hành vi (vd: linh hoạt và tỉ mỉ).

Glaveanu (2010) định nghĩa ‘sáng tạo’ là năng lực mang lại sự mới mẻ, đặc biệt là các sản phẩm sáng tạo với đặc tính mới, hữu dụng và phù hợp hoặc có ý nghĩa. Diễn tả sáng tạo, theo Glaveanu, là một hình thức của diễn tả văn hóa, và cuối cùng, là một trong những dạng thức trực quan nhất của hòa nhập văn hóa. Biểu tượng ‘Âm’ và ‘Dương’ được sử dụng để mô tả quan hệ tương hỗ giữa văn hóa và sáng tạo. “Văn hóa không chỉ là nguồn lực mà còn là động lực dẫn dắt sáng tạo.” Bởi vậy “càng ‘giàu’ liên hệ với các nhân tố văn hóa, sự sáng tạo càng nổi bật.” Mặt khác, sáng tạo là “động lực chủ đạo  đằng sau những thay đổi và biến chuyển văn hóa.”

Cũng giống những người khác, Kronfeldner (2009) sử dụng ‘tính mới lạ’ (novelty) (như nguyên gốc, hoặc không ngờ tới) và ‘sự phù hợp’ (appropriateness) (như sự hữu dụng, khả năng thích ứng với những hạn chế trong thực hiện công việc) trong định nghĩa sáng tạo. Mới lạ sẽ dẫn tới tính nguyên bản và tính tự nhiên. Điều đó  giải thích vì sao một sản phẩm sáng tạo bắt buộc phải mang lại sự mới mẻ. Phù hợp trả lời cho câu hỏi vì sao sự bất ngờ và ngạc nhiên lại cần thiết. Kronfeldner, hơn thế, còn định nghĩa tính nguyên bản nhưng một sự độc lập có nguồn gốc từ việc học tập ở những người khác và học tập từ chính trải nghiệm của bản thân. “Một người thợ gốm chỉ sáng tạo khi và chỉ khi anh ta không làm lại những công việc của người khác hoặc không tạo ra một chiếc bình giống như chiếc khác – cho dù chiếc bình trước đó cũng là sản phẩm của chính anh ta.” Kiến thức mà người thợ gốm tích lũy được qua năm tháng [từ các đồng nghiệp và chính anh ta] là cần thiết để anh ta có thể đi đến những ý tưởng mới cũng như cho phép anh ta đánh giá mức độ hợp lý của những ý tưởng đó.

Tính nguyên bản (originality) không phải là đặc tính căn bản duy nhất của sáng tạo. Khi quá trình học tập và kinh nghiệp làm giảm đi tính nguyên bản, vẫn còn một đặc tính khác của sáng tạo: tính tự nhiên (spointaneity).  Sáng tạo có các cấp độ khác nhau. Mặc dù một đứa trẻ nhận được rất nhiều thông tin từ thầy giáo, chừng nào người thầy chưa trực tiếp đưa ra lời giải, “đứa trẻ vẫn phải sáng tạo ở một mức độ nào đó.” Thầy giáo ra đầu bài và cung cấp cho học trò hầu như tất cả mọi thông tin cần thiết nhưng vẫn giữ kín câu trả lời. “Sáng tạo không xuất hiện khi có mệnh lệnh. Sáng tạo, nếu nó thực sự xuất hiện, sẽ đến một cách tự nhiên.”

Trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây, ngày càng xuất hiện nhiều hơn các công trình nghiên cứu về sáng tạo với đối tượng trọng tâm là các tổ chức, nhằm trả lời các câu hỏi như tổ chức làm thế nào để phát triển và khai thác năng lực sáng tạo. Tiêu biểu có các nghiên cứu của Amabile (1996), Amabile và Regina (1999), Degraff và Lawrence (2002), Napier và Nilsson (2008), Paulus và Nijstad (2003), Unsworth (2001). Sáng tạo ngày càng được quan tâm nhiều hơn với tư cách một nguồn lực vô cùng lợi hại khi xem xét tới các vấn đề từ năng lực cạnh tranh của tổ chức tới quốc gia (Napier, Leonard và Sendler, 2006) và cộng đồng (Florida, 2002 và 2005; Kao, 2007).