Gà lôi rừng Việt Nam

Posted on September 4, 2013 by

15


Op-Economica, 4-9-2013 — Tôi không phải người am hiểu gì mấy về động vật, nhưng rất yêu thích. Hồi bé vẫn đọc truyện nghe thấy nói về các loài gà rừng đẹp của Việt Nam, vẫn gọi là gà lôi. Thời đó ít có điều kiện tranh ảnh, sách vở. Nay sực nhớ ra, Internet cho phép sưu tầm để thỏa lòng mong ngóng. Vì thế, tôi gom mấy hình ảnh dưới đây vào bài.

* Việt Nam được ghi nhận là nơi sinh sống của khoảng 22 loài gà hoang dã khác nhau. Một số loài gà có sắc màu rực rỡ rất bắt mắt.

Các loài Gà ở Việt Nam được xếp vào họ trĩ gồm các loài chim phân bố rộng trên thế giới, kích thước cỡ trung bình, số loài có cỡ lớn, bé rất ít. Đặc điểm bên ngoài của họ Trĩ thường sống trên mặt đất. Chân chắc, đầu không lớn, mỏ ngắn, khoẻ và hơi cong. Cổ ngắn nhắm thích nghi với điểu kiện kiếm ăn trên mặt đất và các bụi thấp. Cánh ngắn và rộng giúp cho chúng bốc nhanh lên khỏi mặt đất để tránh khỏi sự săn đuổi của kẻ thù tự nhiên. Sống ở nhiều các sinh cảnh khác nhau như: rừng rậm, savan, thung lũng

Chim đực không những lớn hơn chim cái mà còn có bộ lông hết sức sặc sỡ nhằm thu hút bạn tình. Bộ lông của họ Trĩ dày, cứng, thân lông phụ thường khá phát triển. Hầu hết các loài thuộc họ này làm tổ trên mặt đất. Tổ rất đơn giản thường là một đám lá khô hay hõm đất nông. Mỗi năm đẻ 1 lứa mỗi lứa đẻ từ 5 đến 15 trứng. Thức ăn chính của chúng là các loài hạt, quả, củ và côn trùng trên mặt đất. Chim non mới nở thường ăn động vật khi lớn thay thế bằng thức vật.

1. Gà lôi trắng Lophura nycthemera

Nơi ở thích hợp là trong rừng thường xanh ở dạng nguyên sinh và thứ sinh có độ cao từ 500m trở lên. Đã gặp chúng ở độ cao từ 500 - 1000m và trên các đỉnh núi cao từ 1200 - 1800m. Kiếm ăn trên mặt đất và ban đên ngủ trên cây. Gặp chim đực khoe mẽ vào đầu tháng 2.

Nơi ở thích hợp là trong rừng thường xanh ở dạng nguyên sinh và thứ sinh có độ cao từ 500m trở lên. Đã gặp chúng ở độ cao từ 500 – 1000m và trên các đỉnh núi cao từ 1200 – 1800m. Kiếm ăn trên mặt đất và ban đên ngủ trên cây. Gặp chim đực khoe mẽ vào đầu tháng 2.

2. Gà rừng Gallus gallus

Chim lớn, cánh dài 200-250mm, nặng 1-1,5kg. Chim đực có lông đầu, cổ màu đỏ da cam, lưng và cánh đỏ thẫm, ngực bụng và đuôi đen. Chim mái nhỏ thua chim đực và toàn thân màu nâu xỉn. Mắt nâu hay vàng cam. Mỏ nâu sừng hoặc xám chì. Mỏ thịt đỏ. Chân xám nhạt.

Chim lớn, cánh dài 200-250mm, nặng 1-1,5kg. Chim đực có lông đầu, cổ màu đỏ da cam, lưng và cánh đỏ thẫm, ngực bụng và đuôi đen. Chim mái nhỏ thua chim đực và toàn thân màu nâu xỉn. Mắt nâu hay vàng cam. Mỏ nâu sừng hoặc xám chì. Mỏ thịt đỏ. Chân xám nhạt.

Gà rừng sông định cư và ở trong nhiều kiểu rừng. Sinh cảnh thích hợp là rừng thứ sinh gần nương rẫy hay rừng gỗ pha giang, nứa. Sống đàn hoạt động vào 2 thời điểm trong ngày: sáng sớm và xế chiều. Buổi tối gà tìm đến những cây cao dưới 5m có tán lớn để ngủ. Gà thích ngủ trong các bụi giang, nứa, có nhiều cây đổ ngang.

3. Gà lôi hông tía Lophura diardi

Thường gặp trong các loại rừng khác nhau và chỗ cây bụi, kể cả nơi trống trải, dọc đường đi. Độ cao vùng phân bố khoảng dưới 750m. Đi lẻ hoặc đàn nhỏ và chỉ phân bố từ các tỉnh từ Hà Tĩnh trở vào miền Nam. Đây là loài được đưa vào Sách đỏ Việt Nam.

Chim đực trưởng thành mào dài (70 - 90mm), thường dựng đứng, có màu đen lam ánh thép. Đầu, cằm, họng màu đen. Phần dưới lưng màu vàng kim loại. Hông và trên đuôi màu lam ánh thép và đỏ tía. Phần còn lại của bộ lông nhìn chung có màu lam. Chim cái trưởng thành không có mào nhưng lông ở đỉnh đầu dài hơn. Đuôi thẳng và tròn. Bộ lông nhìn chung có màu nâu, ở bụng có hình vảy trắng nhạt. Mặt đỏ nâu. Da mặt và chân màu đỏ. Thường gặp trong các loại rừng khác nhau và chỗ cây bụi, kể cả nơi trống trải, dọc đường đi. Độ cao vùng phân bố khoảng dưới 750m. Đi lẻ hoặc đàn nhỏ và chỉ phân bố từ các tỉnh từ Hà Tĩnh trở vào miền Nam. Đây là loài được đưa vào Sách đỏ Việt Nam.

Lophura diardi

 

Mô tả: Chim đực trưởng thành mào dài (70 – 90mm), thường dựng đứng, có màu đen lam ánh thép. Đầu, cằm, họng màu đen. Phần dưới lưng màu vàng kim loại. Hông và trên đuôi màu lam ánh thép và đỏ tía. Phần còn lại của bộ lông nhìn chung có màu lam. Chim cái trưởng thành không có mào nhưng lông ở đỉnh đầu dài hơn. Đuôi thẳng và tròn. Bộ lông nhìn chung có màu nâu, ở bụng có hình vảy trắng nhạt. Mặt đỏ nâu. Da mặt và chân màu đỏ.

Sinh học: Sống định cư và làm tổ ở rừng. Bắt đầu vào mùa sinh sản vào năm thứ 3. đẻ 5 – 8 trứng. Trứng ngắn và hơi tròn, màu vàng hồng nhạt kích thước (18 – 38mm). Ấp 24 – 25 ngày. Ăn hạt, giun và côn trùng.

Nơi sống và sinh thái: Thường gặp trong các loại rừng khác nhau và chỗ cây bụi, kể cả nơi trống trải, dọc đường đi. Độ cao vùng phân bố khoảng dưới 750m. Đi lẻ hoặc đàn nhỏ.

Phân bố: Việt Nam: Bắc Trung bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh) đến Nam bộ. Đã gặp ở nhiều nơi: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Gia Lai, Kom Tum, Đồng Nai và Tây Ninh. Thế giới: Thái Lan, Đông Dương.

Tình trạng: Nơi sống bị tác động. Bị săn bắt cho nên số lượng ngày càng bị giảm sút. Mức độ đe dọa: bậc T.

Đề nghị biện pháp bảo vệ: Cầm khẩn trương tiến hành khoanh khu bảo vệ gà lôi hồng tía cùng một số loài trĩ khác ở vùng rừng Hà Tĩnh kết hợp với việc bảo vệ khu rừng đầu nguồn Hồ Kẻ Gỗ (Kỳ Anh, Cẩm Xuyên). Cần tiếp tục tổ chức các cuộc điều tra nghiên cứu nhằm thu thập thêm các thông tin về hiện trạng và ranh giới vùng phân bố của chúng. Ngăn cấm tuyệt đối việc săn bắt gà lôi hồng tía ở tất cả mọi nơi, đồng thời tiến hành công tác giáo dục toàn dân, nhật là nhân dân địa phương bảo vệ gà lôi hồng tía.

vietnam--circa-1978-a-stamp-printed-in-vietnam-shows-lophura-diardi

4. Gà lôi vằn Lophura nycthemera annamensis

Mào dài, cằm, họng, toàn thể mặt bụng màu đen Một đặt điểm dể thấy là một dải, rộng màu trắng chạy dọc theo hai bên cổ. Nhữnglông dài ở ngực và sườn trắng lẫn đen. Mặt lưng có những vân đen mảnh xen kẽ với vân trắng, mỗi một lông có khoảng 6 tới 7 vân trắng hẹp. Cánh màu đen với một vài vân trắng; đuôi màu đen có nhiều vân trắng hẹp. Mắt màu nâu da cam hay vàng. Mỏ đen hoặc màu xám sừng. Da quanh mắt màu đỏ tươi, Chân đỏ tía. Loài gà lôi này phân bố ở các rừng Nam Trung bộ, cao nguyên Lâm viên phía Bắc Plâycu và Phần đông Bắc Nam bộ. Đây là loài chim đặc hữu của nước ta.

Mào dài, cằm, họng, toàn thể mặt bụng màu đen. Một dải rộng màu trắng chạy dọc theo hai bên cổ.

Lophura nycthemera annamensis (Ogilvie Grant); Gennaeus annamensis Ogilvie Grant, 1906; Họ: Trĩ Phasianidae; Bộ: Gà Galliformes

Chim đực trưởng thành: Mào dài, cằm, họng, toàn thể mặt bụng màu đen. Một đặt điểm dễ thấy là một dải rộng màu trắng chạy dọc theo hai bên cổ. Những lông dài ở ngực và sườn trắng lẫn đen. Mặt lưng có những vân đen mảnh xen kẽ với vân trắng, mỗi một lông có khoảng 6 tới 7 vân trắng hẹp. Cánh màu đen với một vài vân trắng; đuôi màu đen có nhiều vân trắng hẹp. Mắt màu nâu da cam hay vàng. Mỏ đen hoặc màu xám sừng. Da quanh mắt màu đỏ tươi, chân đỏ tía.

Lophura nycthemera annamensis

Chim non 1 tuổi: Mặt lưng màu nâu, có vân mảnh màu đen. Mào màu nâu thẫm có điểm nâu đen. Phần dưới cơ thể màu nâu lẫn nâu đen, ở ngực có vệt nâu trắng. Đuôi có vạch nâu đen và đen trắng, những lông đuôi giữa có vân mảnh màu nâu trắng.

Chim cái: Nhìn chung toàn bộ lông có màu nâu tối. Đuôi màu nâu hạt dẻ sáng, cằm và họng màu xám nhạt. Mào dài và có màu nâu thẫm. Lông bao cánh, vai và toàn bộ mặt lưng có những vệt hình mũi mác màu xám nhạt, những vệt này ở phía trên lưng có mép màu tối đục. Mắt nâu. Mỏ ngà. Chân đỏ tía.

Kích thước: Cánh (đực): 225 – 250; (cái): 202 – 245; đụội (đực): 310 – 355; (cái): 215 – 255; giò: 75 – 80; mỏ: 23 – 30mn.

Phân bố: Loài gà lôi này phân bố ở các rừng Nam Trung bộ, cao nguyên Lâm Viên phía Bắc Plây-cu và phần Đông Bắc Nam bộ. Đây là loài chim đặc sản của nước ta.

5. Gà lôi lam mào trắng Lophura edwardsi

Lần đầu tiên được phát hiện trên vùng rừng rậm quanh núi đá vôi giữa tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị của miền Trung bộ của Việt Nam trên độ cao 50 – 200m của rừng thứ sinh. Đây là loài được đưa vào Sách đỏ Việt Nam.

Chim đực trưởng thành nhìn chung có màu xanh lam thẫm. Mào lông ở trên đỉnh đầu màu trắng. Lông ở lưng, cánh, bao cánh và đuôi đen với mép lông màu lam ánh thép. Đôi lông đuôi ở giữa nhọn, ngắn dần ở các đôi tiếp theo. Da mặt đỏ tía, tạo thành thuỷ nhỏ ở hai bên trán. Mắt màu đỏ da cam. Mỏ lục vàng nhạt hay màu sừng. Chân đỏ tía.

Chim đực trưởng thành nhìn chung có màu xanh lam thẫm. Mào lông ở trên đỉnh đầu màu trắng. Lông ở lưng, cánh, bao cánh và đuôi đen với mép lông màu lam ánh thép. Đôi lông đuôi ở giữa nhọn, ngắn dần ở các đôi tiếp theo. Da mặt đỏ tía, tạo thành thuỷ nhỏ ở hai bên trán. Mắt màu đỏ da cam. Mỏ lục vàng nhạt hay màu sừng. Chân đỏ tía.

6. Gà lôi tía Tragopan temminckii

Việt Nam: Chỉ gặp ở Lào Cai (Gần Sapa, trên độ cao 2000 – 3000m). Loài đặc hữu VN vả đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam.

Chim đực trưởng thành nhìn chung bộ lông có nhiều màu sắc đẹp như: đỏ lửa, đỏ nâu và nâu lẫn đen. Hầu hết ở giữa các lông đều có các vệt xám xanh da trời rộng. Mắt nâu, mỏ đen, da quanh mắt xanh da trời. Yếm màu xanh da trời có chấm đỏ. Chân hồng. Chim đực non 1 năm tuổi giống chim cái nhưng kích thước hơi lớn hơn. Chim cái có vệt đen hung và trắng, nhìn thô hơn so với chim đực. Da quanh mắt có màu hơi xanh lam.

Chim đực trưởng thành nhìn chung bộ lông có nhiều màu sắc đẹp như: đỏ lửa, đỏ nâu và nâu lẫn đen. Hầu hết ở giữa các lông đều có các vệt xám xanh da trời rộng. Mắt nâu, mỏ đen, da quanh mắt xanh da trời. Yếm màu xanh da trời có chấm đỏ. Chân hồng. Chim đực non 1 năm tuổi giống chim cái nhưng kích thước hơi lớn hơn. Chim cái có vệt đen hung và trắng, nhìn thô hơn so với chim đực. Da quanh mắt có màu hơi xanh lam.

Tragopan temminckii tonkinensis Delacour et Jabouille; Họ: Trĩ Phasianidae; Bộ: Gà Galliformes

Mô tả: Chim đực trưởng thành nhìn chung bộ lông có nhiều màu sắc đẹp như: đỏ lửa, đỏ nâu và nâu lẫn đen. Hầu hết ở giữa các lông đều có các vệt xám xanh da trời rộng. Mắt nâu, mỏ đen, da quanh mắt xanh da trời. Yếm màu xanh da trời có chấm đỏ. Chân hồng. Chim đực non 1 năm tuổi nhìn chung giống chim cái nhưng kích thước hơi lớn hơn. Chim cái có vệt đen hung và trắng, nhìn thô thiển hơn so với chim đực. Da quanh mắt có màu hơi xanh lam.

Tragopan temminckii tonkinensis 1

Satyr Tragopan

Sinh học: Thức ăn chủ yếu lá chồi lá cây, hạt và côn trùng. Chim nuôi đẻ vào tháng 4. ấp 28 ngày. Trứng có kích thước trung bình (54 x 40mm).

Nơi sống và sinh thái: Sống định cư ở rừng sâu, nơi có cây cối rậm rạp, trên độ cao từ 1500m trở lên. kiếm ăn và làm tổ trên cây.

Phân bố: Việt Nam: Chỉ gặp ở Lào Cai (Gần Sapa, trên độ cao 2000 – 3000m).

Thế giới: Không có

Giá trị: Loài chim đặc hữu quý hiếm ở nước ta. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.

Tình trạng: Nơi sống bị thu hẹp và bị tác động do tập quán khai phá rừng và săn bắt của đồng bào các dân tộc ở vùng núi cao phía Bắc Việt Nam. Số lượng ít. Mức độ đe dọa: bậc R.

Đề nghị biện pháp bảo vệ: Tiến hành điều tra nghiên cứu về hiện trạng, vùng phân bố và số lượng để có biện pháp bảo vệ thích hợp.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam trang 138.

7. Gà lôi Beli Lophura nycthemera beli

Chim đực trưởng thành của 5 phân loài gà lôi trắng (L. Nycthemera Lin) có đặc điểm sai khác hính là càng vào phía Nam nước ta lông đuôi cành ngắn dần, màu trắng của Bộ lông giảm và màu đen của bộ lông tăng lên. Có thể so sánh chiều dài lông đuôi của các phân loài như sau (thứ tự từ Bắc vào Nam):

L. n. nycthemera: dài đuôi: chim đực: 550 – 700mm, chim cái: 240 – 320mm
L. n. beaulieui: dài đuôi: chim đực: 458 – 365mm
L. n. berli         : dài đuôi: chim đực: 380mm
L. n. beli          : dài đuôi: chim đực: 350 – 450mm, chim cái: 200 – 220mm
L. n. annamensis: dài đuôi: chim đực: 310 – 355mm, chim cái: 215 – 255mm.

Lophura nycthemera beli.1

Gà lôi beli giống như gà lôi berli, nhưng đuôi trắng hơn. Mắt, mỏ và chân có màu tương tự gà lôi beli: mặt nâu, mỏ nâu xám xanh, da trần quanh mặt đỏ, chân đỏ.

Nơi sống và sinh thái: Nơi ở thích hợp là trong rừng thường xanh ở dạng nguyên sinh và thứ sinh có độ cao từ 500m trở lên. Đã gặp chúng ở độ cao từ 500 – 1000m và trên các đỉnh núi cao từ 1200 – 1800m. Kiếm ăn trên mặt đất và ban đên ngủ trên cây. Gặp chim đực khoe mẽ vào đầu tháng 2.

Phân bố: Việt Nam: Phân loài này chỉ có ở vùng Trung bộ từ nam Quảng Trị đến Quảng Ngãi.

8. Gà lôi Berli Lophura nycthemera berliozi

Họ: Trĩ Phasianidae; Bộ: Gà Galliformes

Lophura nycthemera berliozi 1

Mô tả: Chim đực trưởng thành giống gà lôi beli, là dạng trung gian giữa phân loài L. n. beaulieuiL. n. beli. Chim cái trưởng thành giống chim cái của phân loài beli. Chim đực 1 năm tuổi, chim non và trứng giống của phân loài L. n. nycthemera nhưng màu tối hơn.

Lophura nycthemera berliozi 2

Nơi sống và sinh thái: Tương tự như gà lôi beli nhưng khô hơn và có thể là nơi trống trải hơn. Trước đây đã thu được mẫu vật ở độ cao khoảng 600 – 1500m, vào năm 1988 đã quan sát thấy chúng ở rừng A Lưới cùng độ cao trên.

Phân bố: Việt Nam: Trung Trung bộ (Quảng Trị, Quảng Bình và Thừa Thiên – Huế). Thế giới: Lào (sườn tây dãy Trường Sơn ngang với 3 tỉnh kể trên của Việt Nam).

Giá trị: Dạng đặc sản của Đông Dương. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.

Tình trạng: Vùng phân bố hẹp. Trong thời gian chiến tranh Đông Dương đây là nơi rừng tư nhiên bị ảnh hưởng của chất độc hoá học và bom đạn nhiều nhất. Vì vậy mà nơi ở tự nhiên của chúng đã bị mất hầu hết. Một số chủng quần còn lại tiếp tực bị săn bắn như ở vùng A Lưới. Mức độ đe dọa: bậc E.

Đề nghị biện pháp bảo vệ: Tiếp tực nghiên cứu về hiện trạng của chúng. Cần điều tra quy hoạch vùng rừng còn lại ở A Lưới (gần đèo 41, dọc đường quốc lộ 14) để làm khu bảo vệ một số loài chim thú quý còn lại ở vùng này. Ngăn chặn việc săn bắt và giáo dục bảo vệ gà lôi berli trong nhân dân địa phương.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam.

9. Gà lôi lam đuôi trắng Lophura hatinhensis (Họ: Trĩ Phasianidae; Bộ: Gà Galliformes)

Mô tả: Chim đực trưởng thành có mào lông ở đỉnh đầu màu trắng với mút lông đen. Đầu, cổ ngực và trên đuôi đen có ánh tím thẫm. Lông cáng đen, bao cánh đen có ánh xanh. Các lông bao cánh, lông ở lưng và bao đuôi có vệt ngang đen nhung ở gần mút lông. Đuôi đen và có 4 lông, ở giữa màu trắng tuyền (đặc điểm sai khác chủ yếu với gà lôi lam màu trắng). Chim cái trưởng thành có kích thước nhỏ hơn chim đực và nhìn chung bộ lông có màu hung nâu tối. Chân đỏ. Da mặt đỏ. Mỏ đen sừng.

galoilam-duoitrang

Sinh học: Đã tìm thấy 3 chim non rời tổ vào ngày 15/6/1987. Thành phần thức ăn thấy có hạt quả cây, kiến và ốc nhỏ.

Nơi sống và sinh thái: Nơi sống thích hợp là các sườn đồi thấp và các thung lũng ven suối có độ cao khoảng 50 – 200m trong các khu rừng ẩm thường xanh nguyên sinh và thứ sinh ở những nơi có tán rừng có nhiều cọ, mây song và tre nứa nhỏ. Có thể gặp trong các khu rừng trồng như rừng cây mỡ (Manglietia glauca). Trong cùng sinh cảnh nói trên còn gặp cả gà lôi lam mào đen, gà tiền, gà so và trĩ sao.

Phân bố: Việt Nam: Đây là loài mới phát hiện được ở vùng Hà Tĩnh. Các thông tin gần đây cho biết vùng phân bố của loài này có thể kéo dài đến phía bắc tỉnh Quảng Bình (Tuyên Hóa), ranh giới phía bắc vùng phân bố hiện chưa rõ. Thế giới: Không có.

Giá trị: Loài mới và là đặc sản quý hiếm ở nước ta. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.

Tình trạng: Nơi ở tự nhiên của chúng ở các điểm tìm thấy trước đây và hiện nay dần bị thu hẹp và thậm chí bị mất đi do rừng bị phá huỷ ngày càng nhiều ở những nơi còn lại thường bị tác động mạnh do nhân dân địa phương thường xuyên vào rừng chặt gỗ và tìm kiếm các lâm sản khác như mây, song. Là đối tượng bị săn bắn của nhiều người. Số lượng bị giảm sút nghiêm trọng. Mức độ đe dọa: bậc E.

Đề nghị biện pháp bảo vệ: Cầm khẩn trương tiến hành khoanh khu bảo vệ gà lôi lam đuôi trắng cùng một số loài trĩ khác ở vùng rừng Hà Tĩnh kết hợp với việc bảo vệ khu rừng đầu nguồn Hồ Kẻ Gỗ (Kỳ Anh, Cẩm Xuyên). Cần tiếp tục tổ chức các cuộc điều tra nghiên cứu nhằm thu thập thêm các thông tin về hiện trạng và ranh giới vùng phân bố của chúng. Ngăn cấm tuyệt đối việc săn bắt gà lôi lam đuôi trắng ở tất cả mọi nơi, đồng thời tiến hành công tác giáo dục toàn dân, nhật là nhân dân địa phương bảo vệ gà lôi lam đuôi trắng.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam trang 136.

10. Gà lôi nước Hyrdrophasianus chirurgus

Tringa chirurgus Scopoli, 1786; Họ: Gà nước Rallidae; Bộ: Rẽ Charadriiformes

Hyrdrophasianus chirurgus 1

Chim trưởng thành: Bộ lông mùa hè. Đầu, họng và trườc cổ trắng. Gáy và hai dải hai bên cổ đen. Mặt trên cổ vàng tươi có ánh. Mặt lưng và mặt bụng nâu gụ. Hông, trên đuôi và đuôi đen nhạt. Bao cánh trắng, lông bao cánh sơ cấp có mút của phiến trong đen. Lông cánh sơ cấp và thứ cấp đen có vệt trắng ở giữa. Lông cánh tam cấp nâu. Nách và dưới cánh trắng.

Bộ lông mùa đông. Lông mày trắng. Một dải vàng ánh bắt đầu từ cuối lông mày và kéo dài suốt hai bên cổ. Một dải đen từ trước mắt, đi qua mắt, kéo dọc hai bên cổ rồi nối với đám đen trước ngực. Phần còn lại ở mặt lưng xám nhạt. Bao cánh nhỏ trắng, bao cánh nhỡ nâu nhạt có vạch trắng và đen. Mặt bụng trắng. Phần còn lại như bộ lông mùa hè. Đuôi ngắn. Mắt nâu. Mỏ xanh đen. Chân xám xanh nhạt.

Kích thước: Cánh: 182 – 242; đuôi: 142 – 325; giò 54 – 59; mỏ: 25 – 29mm.

Hyrdrophasianus chirurgus 2

Phân bố: Gà lôi nước phân bố ở Ấn Độ, Xây lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào Cămpuchia, Việt Nam, Đông nam Trung Quốc, Mã Lai, Xumatra, Java và Phiiipin.

Việt Nam: loài này khá phổ biến ở vùng đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ.

Tài liệu dẫn: Chim Việt Nam hình thái và phân loại – Võ Quý – tập 1 trang 347.

11. Gà lôi lam mào đen Lophura imperialis

Lophura imperialis Delacour et Jabouille, 1924; Họ: Trĩ Phasianidae; Bộ: Gà Galliformes

Lophura imperialis 1

Mô tả: Chim đực trưởng thành nhìn chung có màu xanh lam thẫm. Mào lông ở gáy lam đen. Lông ở lưng, cánh, bao cánh và đuôi đen với mép lông màu lam ánh thép. Đôi lông đuôi ở giữa nhọn, dài và ngắn dần ở các đôi tiếp theo. Da mặt đỏ tía, tạo thành thuỷ nhỏ ở hai bên trán. Mắt màu đỏ da cam. Mỏ lục vàng nhạt hay màu sừng. Chân đỏ tía.

Chim đực non gần độ trưởng thành có bộ lông màu tối, nhiều cỗ vằn. Đầu, mào, cổ và ngực màu lam đen. Chim cái trưởng thành không có mào rõ ràng, bộ lông nhìn chung có màu nâu hạt dẻ. Các phần khác có màu giống chim đực.

Lophura-imperialis 2

Sinh học: Chim nuôi sinh sản vào tháng 6. Đẻ 5 – 7 trứng, có màu kem hồng thẫm với các chấm trắng nhỏ và ấp 25 ngày.

Nơi sống và sinh thái: Lần đầu tiên tìm thấy trên vùng rừng rậm quanh núi đá vôi giữa tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị của miền Trung bộ của Việt Nam. Một chim đực non bắt được vào tháng 2/1990 ở Hà Tĩnh trên độ cao 50 – 200m của rừng thứ sinh. Trong cùng sinh cảnh còn gặp một số loài chim trĩ khác (xem gà lôi lam mào trắng)

Phân bố: Việt Nam: khu Phân bố từ Quảng Bình, Quảng Trị. Khu vự mới phát hiện: Hà Tĩnh (vùng thượng nguồn hồ Kẻ Gỗ thuộc huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên). Thế giới: Lào (tiếp giáp vùng biên giới Việt Nam – Lào)

Giá trị: Loài đặc sản hiếm ở nước ta. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.

Tình trạng: Vùng phân bố lịch sử nằm trong khu vực chiến tranh ác liệt kéo dài ở Việt Nam, mặt khác do tình trạng phá rừng và săn bắt quá mức nên đã không tìm thấy trong khu vực phân bố cũ (Xem gà lôi lam mào trắng) ở vùng rừng Hà Tĩnh tình trạng xảy ra như đối với gà lôi lam đuôi trắng. Mức độ đe dọa: bậc E

Đề nghị biện pháp bảo vệ: Giống như ở gà lôi lam mào trắng và đuôi trắng.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam trang 135.

12. Gà lôi nước Ấn Độ Metopdius indicus

Metopdius indicus (Latham); Parra indica Latham, 1790; Họ: Gà nước Rallidae; Bộ: Rẽ Charadriiformes

Metopdius indicus 1

Chim trưởng thành: Lông ở trên mắt và một dải lông mày rộng kéo dài đến gáy trắng. Phần đầu và cổ còn lại mặt hung, nách và dưới cánh đen có ánh lục thẫm, mặt trên cổ có ánh xanh đỏ hay lục tím. Lưng, lông bao cánh lục vàng ánh đồng. Hông và trên đuôi hung nâu có ánh đỏ. Lông bao cánh lớn, lông cánh sơ cấp và thứ cấp đen có ánh lục ở phiến ngoài. Đuôi và dưới đuôi hung nâu.

Metopdius indicus 2 Metopdius indicus 3

Chim non: Đỉnh đầu hung nâu, phần dưới lưng có vằn hung nhạt và nâu. Tai xám, Cằm trắng. Mặt bụng hung nhạt. Sườn hung có vằn trắng. Mắt nâu. Mỏ vàng lục nhạt, gốc mỏ phớt đỏ và chóp mỏ vàng tươi. Tấm sừng ở trán đỏ nhạt. Chân lục thẫm xỉn.

Kích thước: Cánh: 145-198; đuôi: 34-52; giò: 65-80; mỏ: 31-39mm.

Phân bố: Loài này phân bố ở Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai, Java, Xumatra và Nam Đông Dương. Việt Nam: loài này có ở Nam bộ và Nam Trung bộ (đến Ninh Thuận).

13. Gà lôi trắng Beli Lophura nycthemera beaulieui

Lophura nycthemera beaulieui Delacour, l948. Họ: Trĩ Phasianidae; Bộ: Gà Galliformes

galoitrang-beli

Chim đực trưởng thành: Nhìn chung giống như phân loài Lophura nycthemera nycthemera, nhưng khác ở chỗ L. n beaulieui có đuôi ngắn hơn một chút: những vạch đen ở phần trên cơ thể nhiều hơn và rộng hơn những vạch đen ở cánh và bên cạnh đuôi rất rõ và đậm nét hơn.

galoitrang-beli2

Chim cái: Nhìn chung cũng giống chim cái của phân loài Lophura nycthemera nycthemera, nhưng ngực có lẫn màu trắng hungvới màu nâu đen rất rõ. Các lông cánh sơ cấp, thứ cấp và lông đuôi giữa có vân mảnh, các lông đuôi khác có điểm và vạch đen nâu và trắng.

galoitrang-beli.cai

Kích thước: Cánh (đực): 256 – 302, (cái): 200 – 270; đuôi: 458 – 635; giò. 95 – 103; mỏ: 25 – 33 mm.

Phân bố: Phân loài gà lôi trắng này phân bố ở Đông nam Vân Nam (Trung Quốc), Bắc Lào, Tây Bắc Việt Nam về phía Nam đến Hà Tĩnh. Đã tìm thấy Loài này ở Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ, Thanh Hóa và Nghệ An.

ga_loi


* Nguồn: http://vncreatures.net/ (trang web Sinh Vật Rừng Việt Nam)

Advertisements