Gà rừng lông đỏ

Posted on November 5, 2014 by

1


Op-Economica, 5-11-2014 — Gà rừng lông đỏ (danh pháp: Gallus gallus) là một trong bốn loài gà trong chi gà rừng, phân họ Phasianinae, họ Phasianidae. Gà rừng lông đỏ sống định cư ở nhiều kiểu rừng, tập trung vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chúng xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới: Trung Quốc, Myanma, Lào, Campuchia, Việt Nam. Ở Việt Nam gà rừng có mặt nhiều tại các tỉnh miền núi trung du.

Giống như nhiều loài chim khác trong họ Trĩ, con trống không tham gia vào việc ấp trứng hay nuôi nấng các con non có thể sống độc lập ngay từ khi mới sinh ra. Các công việc này do con mái có bộ lông nâu xám và dễ ngụy trang đảm nhận.

Gà rừng lông đỏ được cho là tổ tiên của các loại gà nhà. Quê hương của chúng là các nước Đông Nam Á kéo dài tới Ấn Độ.

Các đặc điểm về gà rừng thuần chủng hiện nay được dựa trên các nghiên cứu của các nhà điểu học từ những năm 1920. Ngoài ra người ta cũng dựa trên các mẫu gà rừng bắt được tại Ấn Độ vào thập niên 60. Sau đây là các đặc điểm để nhận dạng gà rừng thuần chủng.

Gà Trống:

ga rung MalayGà rừng thuần chủng có thân hình thanh hơn, mào nhỏ và lông đuôi thưa với tối đa 2 cọng lông đuôi cong chính (1 cái mỗi bên) và khoảng 4 lông đuôi cong phụ mỗi bên . Các lông đuôi cong phụ cũng không quá dài. Hình trên là một con gà rừng ở Mã Lai.

Gà Mái: Có mào thật nhỏ gần như không thấy được khi nhìn xa. Mặt trơn láng, không có tích. Đây cũng là một đặc điểm bắt buộc ở gà rừng thuần chủng. Đầu phải nhìn giống đầu chim trĩ. Thân hình thon nhỏ.

Gà rừng là chim ăn hạt, nhưng chúng cũng ăn cả sâu bọ khi có thể, đặc biệt là ở các con non.

Một loài trong chi này, gà rừng lông đỏ, có tầm quan trọng lịch sử đối với con người, như là tổ tiên có thể nhất của gà nhà, mặc dù một số tác giả cho rằng gà rừng lông xám cũng có thể là tổ tiên của gà nhà.

ga rung long doGà rừng lông đỏ sống định cư ở nhiều kiểu rừng, tập trung vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chúng xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới: Trung Quốc, Myanma, Lào, Campuchia, Việt Nam. Ở Việt Nam gà rừng có mặt nhiều tại các tỉnh miền núi trung du.

Theo trang phân loại động vật vncreatures.net, thông tin bổ sung như sau

Đặc điểm nhận biết: Chim lớn, cánh dài 200-250mm, nặng 1-1,5kg. Chim đực có lông đầu, cổ màu đỏ da cam, lưng và cánh đỏ thẫm, ngực bụng và đuôi đen. Chim mái nhỏ thua chim đực và toàn thân màu nâu xỉn. Mắt nâu hay vàng cam. Mỏ nâu sừng hoặc xám chì. Mỏ thịt đỏ. Chân xám nhạt.

Sinh thái và tập tính: Gà rừng sông định cư và ở trong nhiều kiểu rừng. Sinh cảnh thích hợp là rừng thứ sinh gần nương rẫy hay rừng gỗ pha giang, nứa. Sống đàn hoạt động vào 2 thời điểm trong ngày: sáng sớm và xế chiều. Buổi tối gà tìm đến những cây cao dưới 5m có tán lớn để ngủ. Gà thích ngủ trong các bụi giang, nứa, có nhiều cây đổ ngang.

Gà rừng ăn các loại quả mềm (đa, si..), hạt cỏ dại, cây lương thực, thóc ngô…các loài động vật nhỏ, mối, kiến giun đất, châu chấu, nhái…

Mùa sinh sản của gà rừng bắt đầu vào tháng 3. Vào thời kỳ này gà trống gáy nhiều lúc sáng sớm và hoàng hôn. Một con đực đi với nhiều con mái. Tổ làm đơn giản, trong lùm cây bụi, Mỗi lứa đẻ 5 -10 trứng, ấp 21 ngày. Con non đẻ ra khoẻ.

Phân bố: Nam Trung Quốc, Bắc Mianma, Lào, Campuchia, Việt Nam. Ở Việt Nam gà rừng có khắp các tỉnh miền núi trung du.

Giá trị sử dụng: Gà rừng là chim săn bắn và cho thịt.

Tình trạng: Số lượng gà rừng ở nước ta còn tương đối nhiều. Có thể khai thác để cung cấp thêm cho con người.

Tài liệu dẫn: Động vật rừng – Phạm Nhật, Đỗ quang Huy – trang 88.

ga rung vietnam

Vài thông tin về kỹ thuật chăm sóc gà rừng

Gà rừng có bản tính nhút nhát. Tuy nhiên, gà ấp nở tại chuồng thì cũng có xu hướng dạn người hơn. Còn đối với gà rừng bắt về nuôi kể cả từ nhỏ, thì cũng rất khó quen người. Đó là vì bản năng sinh tồn trong thiên nhiên.

Để làm quen – thuần hóa đàn gà rừng nuôi tại nhà – người ta hay bắt đầu từ lúc ấp trứng gà rừng nở. Thay vì quăng thức ăn rồi để chúng tự ăn, người nuôi chịu khó vào tận nơi, ngồi cạnh chuồng. Thời gian đầu gà mới nở, kinh nghiệm cũng chỉ ra rằng không nên thả rông, vì như thế xác suất sống sót thấp. Khi này, chăm cho cả gà mẹ và gà con ăn là lúc dễ làm quen nhất. Thời gian này kéo dài khoảng 4 tuần. Tới tuần thứ 5 thì nên thả ra tự nhiên, để gà mẹ dắt đi. Nếu lúc này mà cho được gà mẹ ăn trên tay người, thì cơ bản là sẽ thuần hóa được đàn gà con mới nở, do chúng quen. Cũng không nên cho chúng ăn quá no, vì thường xuyên đói và tiếp xúc nhiều lần, sẽ chóng quen và dạn người.

Một cách quen và luyện là ôm gà và vò nhẹ đầu, gãi tai và má. Gà rừng thích gãi gãi, và hiệu ứng coi như hoàn hảo nếu kèm thêm thức ăn hấp dẫn, ví dụ mồi tươi: châu chấu, cào cào, ếch nhái… Gà hơi đói thì dậy sẽ dễ hơn. Ngoài ra, ngay cả gà trưởng thành cũng không nên ăn nhiều, vì ảnh hưởng không tốt đến hệ tiêu hóa.

Thức ăn với gà nhỏ là tấm cám gạo, rau xanh và mồi tươi băm nhỏ. Sau 3 tháng thì không cần băm mồi tươi nhỏ nữa. Gà mái khi có mặt chuyển màu đỏ là sắp đẻ, thì cần thêm can-xi. Cách bổ sung thường là vỏ trứng giã nát, vỏ ốc xay nát, trộn vào thức ăn. Mồi tươi như cá và thịt băm cũng giúp tăng lực cho gà mái, đàn gà con sinh ra khỏe hơn.

Gà rừng có thể lai với gà ác, gà tre, thậm chí gà ri (miền Bắc phổ biến).