Để khoa học trở thành nghề đáng mơ ước

Posted on December 13, 2014 by

6


Science Dec 12 2014 (Jessica K. Polka, Kristin A. Krukenberg) — Hầu hết các nhà khoa học (kể cả chúng tôi) tiến vào các chương trình sau đại học háo hức phát hiện những điều mới mẻ, kiểm định những ý tưởng điên rồ, và hy vọng có thể góp phần thay đổi thể giới, hoặc ít nhất giải thích một phần nào đó của thế giới xung quanh.

Thật đáng buồn, ngày nay những khao khát đó đang bị che lấp bởi những cuộc chiến khốc liệt về đăng bài, tiền tài trợ nghiên cứ, và những vị trí khoa bảng dài hạn, là những điều kiện cần để có thể có được cuộc đời nghiên cứu khoa học độc lập.

Thậm chí ngay cả những người may mắn có được một trong những thứ hiếm hoi kể trên, những vị trí giáo sư cũng bị áp lực khủng khiếp: ngập chìm trong những thông số phải thỏa mãn về nguồn tài chính và ấn phẩm đã làm tan biến những khát vọng phát hiện khoa học thực thụ kể cả trong số những nhà khoa học tâm huyết và cả những người đã thành danh.

Kết cục là: Khoa học trở thành thứ nghề nghiệp không đáng để mơ ước.

Chúng ta có thể khắc phục vấn đề này, nhưng chỉ khi chúng ta sẵn sàng tạo ra những thay đổi căn bản về mặt cấu trúc và phương thức tài trợ cho khoa học.

“Career instability … turns some of the best talent away.”

“Career instability … turns some of the best talent away.”

Trong nhiều thập kỷ, những sinh viên bậc sau đại học được đào tạo để trở thành nhà khoa học là lực lượng thực hiện hầu hết các công việc hàng ngày liên quan tới khoa học. Được viễn cảnh hứa hẹn về một nghề được tưởng thưởng xứng đáng động viên, họ sẵn sàng làm việc vất vả, bền bỉ với mức lương tối thiểu.

Đối với khoa học, thực tế trên có hiệu quả trong ngắn hạn, nhưng không thể tiếp tục lâu dài: Ranh giới giữa thực tập viên khoa học và lao công thuần túy giá rẻ đã bị xóa nhòa.

Trong khi khoa học ngày càng được đầu tư tiền bạc nhiều hơn—rõ ràng đây là điều tốt—thì vị trí của những thực tập viên/nhà khoa học tập sự lại lao dốc xuống trở thành kẻ đáp ứng kiểu nhu cầu lao động tạm thời.

Các vị trí khoa bảng chính thức không tăng kịp, làm xói mòn giá trị trí tuệ và kinh tế của ý nghĩa đào tạo khoa học chính thống. Những thực tập sinh nghiên cứu ngày càng mất nhiều thời gian, thường tiêu tốn hết cả những năm tuổi 30, để tích lũy đủ điều kiện khoa bảng có thể vượt lên và được bổ nhiệm vào những vị trí khoa học lâu dài, xứng đáng.

Mỗi năm trôi qua, các nhà khoa học trẻ cũng như già lại mất càng nhiều thời gian hơn lo lắng về chính sự ổn định công việc bản thân, và còn ít thời gian hơn cho công việc chính: Tìm kiếm những phát hiện, chân lý khoa học.

Nếu khoa học vẫn tiếp tục được tổ chức theo cách này, chẳng có gì làm thay đổi được bức tranh buồn nói trên.

Một số người biện luận rằng, cạnh tranh khốc liệt giúp củng cố nền tảng khoa học vì chỉ kẻ có năng lực thích nghi tốt nhất mới tồn tại. Nhưng những lợi ích sinh ra từ cuộc quyết đấu sinh tồn ấy lại đi ngược với phẩm giá khoa học như tính sáng tạo, sự cởi mở và phát kiến đổi mới. Chúng ta thậm chí có khi còn lựa chọn lấy những phẩm chất chẳng hề mong muốn cho khoa học: tính cẩu thả khinh suất, và sự tổn thất sức lực vào trò chơi tự tiếp thị bản thân thay vì nỗ lực thực sự khoa học.

Trọng số ưu đãi cho việc công bố các bài báo trên những tạp chí có hệ số trích dẫn cao (“impact-factor”) có thể khuyến khích các nhà khoa học thổi phồng giá trị của những phát hiện của họ, hoặc còn có thể tệ hại hơn thế nữa. Nói ngắn gọn, rõ ràng siêu cạnh tranh không nhất quán với tư tưởng “tạo điều kiện cho những bộ óc đã được rèn luyện có được tự do tuyệt đối để thực thi các sáng kiến,” mà Vannevar Bush, người kiến trúc nên hệ thống tài trợ nghiên cứu khoa học của chúng ta (Mỹ) trong những năm 1940, coi là nguyên tắc có “tầm quan trọng tối cao.”

Vậy thì vì sao vẫn có nhiều sinh viên lao vào con đường nghề nghiệp khoa học? Chúng tôi tin rằng đó là một sự kết hợp giữa thiếu hiểu biết về thực tế cuộc sống, quá tự tin, và kiểu đam mê sau một trận say rượu. Vào một thời điểm nào đó trong quá trình rèn luyện khoa học, nhiệt huyết tâm bắt đầu tan biến. Thực tập viên nghiên cứu nào cũng đã từng chạm trán với trường hợp một vài sinh viên có tài năng xuất chúng—đáng lẽ ra có thể sẽ mang lại những đóng góp khoa học xứng đáng—quyết định từ bỏ khoa học. Đó là vì tương lai bất trắc, những kiểu tài trợ so đo sợ bị rủi ro, và những lợi ích được dành cho những méo mó và gian dối. Họ đi tìm những ngành nghề thực dụng và nhiều lợi ích hơn.

Để thu hút được những bộ óc trẻ xuất sắc nhất đến với nghiên cứu và giữ họ ở lại với khoa học, chúng ta cần thay đổi cách đào tạo các nhà khoa học và cách hoàn thành công việc khoa học. Phần lớn công việc cần được quay trở lại với thực hành của các nhà khoa học đã trưởng thành, nắm các vị trí ổn định, và bớt đi phần việc của các thực tập viên. Chúng ta cần gỡ nút cổ chai thắt nghẽn giữa giảng viên chính, thực tập viên và quá trình nhận học viên sau đại học. Tài trợ cho đào tạo và kinh phí nghiên cứu theo vị trí nghiên cứu nên thay thế kiểu hỗ trợ đại trà, sao cho việc tăng tài trợ cho nội dung nghiên cứu chính không làm tăng số thực tập sinh, hay gây ra dư thừa lãng phí nguồn lao động tiềm tàng ở trình độ cao.

Những biện pháp này sẽ tạo tác dụng phụ hữu ích: thúc đẩy quá trình đào tạo hiệu quả hơn và tính độc lập tri thức. Quan trọng hơn nữa, chúng giúp cải thiện viễn cảnh tương lai nghề nghiệp của các nhà khoa học trẻ.

Bây giờ là lúc để giải quyết tính bất ổn định đã khiến cho một số tài năng xuất sắc nhất rời bỏ khoa học. Nỗ lực và đầu tư cần để khiến nghề nghiệp nghiên cứu trở thành nghề hấp dẫn rồi sẽ được bù đắp tương xứng qua những phát kiến khoa học trong tương lai.


Science 12 December 2014:
Vol. 346 no. 6215 p. 1422
DOI: 10.1126/science.346.6215.1422