Đền Trần – Nam Định và lễ hội dân gian

Posted on March 5, 2015 by

0


Op-Economica, 5-3-2015  — Khu di tích đền Trần thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định gồm 3 ngôi đền. Đền Thiên Trường (còn gọi là đền Thượng) là nơi thờ 14 vị Hoàng đế nhà Trần và Thủy tổ họ Trần ở Tức Mặc. Đền Cố Trạch (còn gọi là đền Hạ) là nơi thờ Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn cùng gia quyến, gia tướng. Năm 2000 nhân dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội, nhờ sự trợ giúp một phần kinh phí của UBND thành phố Hà Nội, đền Trùng Hoa đã được UBND tỉnh Nam Định đầu tư xây dựng. Đây là ngôi đền liên tưởng đến cung Trùng Hoa, nơi ngự của các vua tại vị mỗi khi về chầu Thượng hoàng ở Thiên Trường. Với ý nghĩa đó, đền Trùng Hoa cũng là nơi tưởng niệm các vua Trần. Cả 3 ngôi đền có phong cách kiến trúc khá giống nhau và nằm trong một khuôn viên khép kín, chung một cổng vào, bên trên cổng có bức đại tự chữ Hán “Trần Miếu” vì thế “Đền Trần” là tên gọi chung cho cả 3 di tích.

Đền Trần

Đền Trần

Theo các nguồn sử liệu, đặc biệt là kết quả khai quật khảo cổ có thể khẳng định khu di tích đền Trần được xây dựng trên cương vực cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa trong Hành cung Thiên Trường của các Thượng hoàng nhà Trần. Đại Việt sử ký toàn thư quyển V kỷ nhà Trần chép rằng: “Nhâm Tuất (Thiệu Long) năm thứ 5 (1262) … Mùa xuân, Tháng hai, Thượng Hoàng ngự đến hành cung Tức Mặc… Đổi hương Tức Mặc thành phủ Thiên Trường, cung gọi là Trùng Quang. Lại xây riêng một khu cung khác cho vua nối ngôi ngự khi về chầu, gọi là cung Trùng Hoa…”. Như vậy, kể từ năm 1262, cùng với việc thăng làng Tức Mặc thành phủ Thiên Trường, các vua Trần đã cho xây dựng ở cố hương nhiều đền đài, cung điện để phục vụ cho chế độ Thượng Hoàng. Hành cung Thiên Trường với trung tâm là cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa. Bao bọc xung quanh là cả một hệ thống dinh thự của các quan lại, quý tộc của triều đình. Đó là khu Bảo Lộc của An Sinh vương Trần Liễu, khu Lựu Phố của Thái sư thống quốc Trần Thủ Độ, thái ấp Đốc Lập của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải, khu Đồng Mai của Vệ úy tướng quân Lư Cao Mang… Phủ Thiên Trường với hạt nhân là Tức Mặc đã trở thành một trung tâm quyền lực lớn thứ hai sau Kinh đô Thăng Long, một khu vực hành chính đặc biệt trực thuộc triều đình Trung ương cùng quản lý và điều hành đất nước. Không chỉ có vậy Hành cung Thiên Trường / Phủ Thiên Trường còn là hậu cứ quan trọng trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông – Nguyên của Đại Việt ở thế kỷ XIII-XIV.

Nhà Trần tồn tại 175 năm (từ 1225-1400), sau khi Hồ Quý Ly tiếm ngôi, con cháu họ Trần ở Tức Mặc phải ẩn náu đi nơi khác để lánh nạn. Khi giặc Minh sang xâm lược nước ta các cung điện bị tàn phá, vai trò, vị thế của hành cung Thiên Trường không còn. Đầu thế kỷ XV, Lê Lợi tổ chức kháng chiến chống giặc Minh thắng lợi, tình hình nước nhà ổn định, con cháu họ Trần ở Tức Mặc hồi hương tạo dựng cuộc sống. Ban đầu có 4 phái tộc họ Trần gồm: Trần Huy, Trần Xuân, Trần Thế và Trần Đăng về ở các khu Khang Kiện, khu Bái, khu Động Kính, về sau con cháu họ Trần ngày một đông thêm. Khi đã ổn định cuộc sống và có điều kiện thuận lợi họ Trần đã xây dựng “Trần Miếu” trên khu vực cung điện cũ để tưởng nhớ công lao của Tiên tổ và các bậc Đế vương, đó là năm Chính Hòa thứ 15 (1694). Câu đối ở đền còn ghi:

“Chính Hòa miếu chế hương sùng tạo
Minh Mệnh tuần hành quốc tế hưng”.

Nghĩa là:

Niên hiệu Chính Hòa quê hương lập miếu thờ
Dưới thời Minh mệnh việc quốc lễ được phục hồi như xưa.

Đến triều Nguyễn, vào các đời vua Tự Đức, Thành Thái, Duy Tân “Trần Miếu” liên tiếp được trùng tu, mở rộng và hoàn thiện, chính là đền Thiên Trường ngày nay.

Đền Cố Trạch được xây dựng muộn hơn đền Thiên Trường. Theo văn bia “Trùng kiến Hưng Đạo thân vương cố trạch bi ký” soạn năm Thành Thái thứ 9 (1897) hiện lưu giữ tại di tích cho biết: vào đời vua Tự Đức khi tu sửa “Trần Miếu” đã đào được ở bên đông có mảnh bia vỡ, trên trán bia có 6 chữ “Hưng Đạo thân vương Cố Trạch” (Nhà cũ của Hưng Đạo thân vương) nên nhân dân đã xây dựng ngôi đền để thờ Ông và gia quyến có tên gọi là đền Cố Trạch. Ngôi đền được khởi dựng vào đời vua Tự Đức, đến đời vua Thành Thái năm thứ 7 (1895) thì mở rộng, hoàn thiện với quy mô như ngày nay.

Năm 1962 trong quyết định của Bộ Văn hóa xếp hạng chính thức đợt I di tích danh thắng toàn miền Bắc, đền Thiên Trường và đền Cố Trạch đã được Nhà nước xếp hạng cấp Quốc gia.

Lễ hội dân gian tại di tích

Theo kết quả nghiên cứu của Bảo tàng tỉnh Nam Định, trước kia khu di tích đền Trần hàng năm thường diễn ra 2 kỳ lễ hội, đó là lễ hội đầu năm và lễ hội Tháng Tám.

Lễ hội đầu năm được tổ chức ở “Trần Miếu” ngày 14,15,16 Tháng Giêng. Sách Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược của Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh viết đầu thế kỷ XX trong phần phong tục có ghi: “Tức Mặc có lệ 15 Tháng Giêng đấu vật ở Trần Miếu… Cứ đến chiều 14 tháng giêng thì các nơi: Đến Bảo Lộc, Lựu Phố, Hậu Bồi, Đệ Tứ, Phương Bông, Chùa Tháp, Cố Trạch, đều chồng kiệu để sáng 15 rước cả vào sân miếu… Bảy nơi này kiệu đến trước cũng phải đỗ ở cổng, mỗi nơi đến rước kiệu vào sân rồng và đặt lễ, tế xong ra rồi thì nơi khác mới được vào… Lễ dùng cá Triều đẩu (cá quả), cá hóa long (cá chép)…”

Theo văn bia “Trần Miếu tự nam Quan âm kiều ký” (bài văn bia cầu quan âm ở phía nam miếu nhà Trần) do Trần Trọng Hàng soạn năm Duy Tân thứ 8 (1914), hiện lưu giữ tại chùa Phổ Minh có đoạn viết: “Kính xét, quý hương Tức Mặc tỉnh Nam Định phụng thờ miếu nhà Trần, theo lệ cũ cứ vào ngày 15 Tháng Giêng cùng nhau cử hành đại lễ. Các quan địa phương phụng mệnh làm lễ tế rất là kính cẩn. Trước 1 ngày (ngày 14-TG) ba thôn Tráng Kiện, Động Kính, Thượng Bái cùng nhau rước kiệu Thánh lên Trần miếu. Ba xã Lộc Quý, Hạ Lộc, Hậu Bồi rước kiệu đến chùa Phổ Minh làm lễ rước Đệ nhất Trúc Lâm Trần Nhân Tông về Trần Miếu và tiến hành tế lễ. Ngày hôm sau lại rước trở về vị trí cũ”.

Như vậy có thể khẳng định lễ hội đầu năm tại đền Trần xưa kia được tổ chức trong 3 ngày từ 14 đến 16 Tháng Giêng. Trong đó ngày 15 cử hành đại lễ có sự tham gia của các thôn làng xung quanh. Sau này do tổ chức lễ hội phải chi phí tốn kém nên làng Tức Mặc quy định cứ 3 năm mới vào đám 1 lần vào các năm: Tý, Ngọ, Mão, Dậu.

Vào Tháng Tám tại đền Cố Trạch diễn ra lễ hội trong 3 ngày từ 19 đến 21 để tượng niệm ngày mất Quốc công tiết chế Hưng Đại Đại vương Trần Quốc Tuấn. Theo lệ cũ vào ngày 19 Tháng Tám một số nơi thờ Đức Thánh Trần như: Các làng Hữu Bị, Đệ Nhất, đền Nam Mỹ (TP. Nam Định) rước kiệu về đền Cố Trạch để tham dự. Sáng ngày 20 các làng gồm: Hậu Bồi, Phương Bông, Đệ Tứ, Tức Mặc mới rước kiệu đến mở hội. Chiều 20 các nơi rước kiệu trở về, đến ngày 21 tổ chức lễ tạ.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, TP.Nam Định và các địa phương xung quanh là nơi diễn ra nhiều trận chiến đấu và là một trong các mục tiêu bắn phá của máy bay Mỹ, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, vì thế các lễ hội nói chung không được tổ chức thường xuyên mà chỉ diễn ra ở địa phương nào có điều kiện. Lễ hội tại đền Trần cũng chỉ tổ chức ở phạm vi làng Tức Mặc và một số địa phương lân cận liên quan đến thờ các nhân vật thời Trần.

Sau khi đất nước thống nhất, đặc biệt là thời kỳ đổi mới lễ hội đền Trần đã mang sắc thái mới. Lễ hội đầu xuân vốn diễn ra trong 3 ngày 14 đến 16 tháng giêng, thì nay chỉ tập trung vào Lễ Khai ấn đêm 14 rạng ngày 15 tháng giêng với quy mô ngày một đông hơn. Còn lễ hội Tháng Tám tại đền Cố Trạch đã phát triển rộng ra cả khu vực đền Trần – Chùa Tháp và các di tích liên quan đến Đức Thánh Trần và các tướng lĩnh nhà Trần trong khu vực phường Lộc Vượng, phường Lộc Hạ (TP.Nam Định), xã Mỹ Phúc (huyện Mỹ Lộc). Thời gian lễ hội kéo dài trong tháng, nhưng tập trung chủ yếu từ 15 đến 20 Tháng Tám. Năm 2000, lễ hội đền Trần Tháng Tám được mang tên gọi chung là “Lễ hội truyền thống Trần Hưng Đạo” và trở thành một trong hai lễ hội lớn nhất ở tỉnh Nam Định hiện nay (Tháng Tám giỗ Cha Tháng Ba giỗ Mẹ).

Lễ khai ấn đầu năm

Về nguồn gốc lịch sử: Đến nay tuy chưa phát hiện được tài liệu, sử sách nào ghi chép cụ thể về nguồn gốc, lịch sử của lễ khai ấn đền Trần. Nhưng thực tế đây là một tục cổ truyền đã được nhân dân làng Tức Mặc gìn giữ, duy trì qua nhiều thế hệ. Quá trình khảo sát, nghiên cứu về Lễ Khai ấn chúng tôi đã căn cứ vào các nguồn thông tin sau:

Thứ nhất: Qua lời kể, truyền thuyết của nhân dân làng Tức Mặc, đặc biệt là lời kể của các cụ cao niên, các cụ thủ từ, các nhà nghiên cứu ở địa phương.

Thứ hai: Đền Thiên Trường và đền Cố Trạch được nhà nước xếp hạng cấp Quốc gia từ năm 1962. Ngay sau khi xếp hạng, di tích được đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Ngành Văn hóa -Thông tin tỉnh mà cụ thể là Bảo tàng và Ban quản lý Di tích danh thắng tỉnh cho đến năm 2008 mới phân cấp cho Thành phố Nam Định trực tiếp quản lý. Các thế hệ lãnh đạo Bảo tàng và Ban quản lý di tích- danh thắng tỉnh đều khẳng định đã từng chứng kiến Lễ Khai ấn do dân làng Tức Mặc tổ chức.

Thứ ba: Theo hồ sơ di tích (hồ sơ nâng cao) đền Thiên Trường, đền Cố Trạch do Bảo tàng Nam Hà lập năm 1996 (hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Nam Định và Cục Di sản văn hóa) đã mô tả về Lễ Khai ấn và phát ấn tại đền Trần vào đêm 14 rạng ngày 15 tháng giêng hàng năm.

Thư tư: Theo truyền thuyết địa phương và các bài viết của các nhà nghiên cứu ở địa phương thì trước kia quả ấn dùng để Khai ấn đền Trần có nội dung “Trần triều Quốc bảo” hay “Trần triều chi bảo”, chất liệu bằng đồng nhưng do chiến tranh loạn lạc đã bị thất lạc, nên nhân dân địa phương mới khắc lại ấn triện bằng gỗ có nội dung “Trần Miếu tự điển” để khai ấn như hiện nay. Một sự trùng lập ngẫu nhiên, năm 2008 ngành VHTTDL Nam Định đã phát hiện được ấn triện “Trần triều Quốc bảo” tại điện Văn Lộc xã Mỹ Thuận huyện Mỹ Lộc. Hội đồng giám định kết luận ấn triện bằng gỗ có niên đại cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Như vậy thông tin về việc đã từng tồn tại một quả ấn có nội dung “Trần triều quốc bảo” để khai ấn đền Trần trước đây là có cơ sở.

Từ những thông tin trên cùng với lịch sử hình thành di tích, chúng tôi nhận định: Lễ Khai ấn đền Trần là một tục có từ lâu, nhưng có thể xuất hiện hay phục hồi sớm nhất là vào thời Lê niên hiệu Chính Hòa (1680-1705) hoặc dưới thời Nguyễn niên hiệu Minh Mệnh (1820 – 1840) và phát triển vào các giai đoạn sau.

Về nghi lễ tổ chức: Lễ Khai ấn đầu xuân tại đền Trần diễn ra vào giờ Tý đêm 14 rạng ngày 15 Tháng Giêng. Rằm Tháng Giêng là Tết Nguyên tiêu, là tuần trăng đầu tiên của một năm. Theo tư duy của cư dân nông nghiệp lúa nước thì ngày này có ảnh hưởng đến công việc của cả năm “Cúng bái cả năm, không bằng rằm Tháng Giêng”. Còn giờ Tý là thời điểm chuyển giao giữa ngày cũ sang ngày mới, trong thập nhị chi thì chi Tý đứng đầu. Người xưa quan niệm “Nhân sinh khởi Tý, Thiên địa khởi Ngọ” (con người ta bắt đầu một công việc vào giờ Tý , trời đất tụ hội vào giờ Ngọ). Với tư duy như vậy nên Lễ Khai ấn đầu xuân có ý nghĩa chấm dứt những ngày nghỉ tết, bắt đầu công việc của một năm mới.

Ngày thường quả ấn được lưu giữ tại đền Cố Trạch – nơi thờ Đức Thánh Trần. Sáng ngày 14 Tháng Giêng nhân dân làng Tức Mặc sửa soạn kiệu để chuẩn bị cho buổi lễ, đồng thời làm công tác chuẩn bị như bao sái đồ thờ, sắm sửa đồ tế lễ, phân công lực lượng tham gia buổi lễ.

Trước giờ Tý, mọi người tham dự tập trung tại đền Cố Trạch, đoàn rước chuẩn bị, các cụ cao tuổi đại diện cho dân làng làm lễ tại đền Cố Trạch xin Đức Thánh Trần được rước ấn sang đền Thiên Trường khai ấn. Hòm đựng ấn được chuyển ra kiệu. Đoàn rước ấn tổ chức rất trọng thể, đi đầu có cờ thần rồi đến phù giá bao gồm kiếm lệnh, bát biểu, chấp kích, rồi đến mâm hoa quả, tiếp đến là kiệu rước hòm ấn, đội bát âm, sau cùng là đoàn tế cùng khách hành hương. Đoàn đi theo nhịp trống, chiêng vòng quanh hồ vào sân đền Thiên Trường. Tại đây kiệu ấn được đặt trang trọng phía trước sân hành lễ nơi đặt bàn thờ “Trung thiên” để làm lễ dâng hương tế cáo trời đất. , đội tế xắp xếp hàng ngũ do ông chủ tế chỉ huy, tiếp tục làm lễ tại ban thờ “Trần Triều liệt miếu tiên hoàng đế Thần vị”. Hòm đựng ấn được dâng lên ban thờ và ông Chủ tế đọc chúc văn có nội dung đại ý xin các Hoàng đế nhà Trần được khai ấn ban phúc cho muôn dân.

Tiếp theo là phần khai ấn. Các cụ cao niên ngồi thành hàng phía dưới ban thờ các vua. Ông chủ lễ ngồi chính giữa, có 2 người giúp việc, một chuẩn bị giấy, một chuẩn bị mực dấu, phía sau là các đại biểu mời tham dự Lễ Khai ấn. Hòm ấn được mở ra, ông chủ lễ đóng các lá ấn đầu tiên. Ấn “Trần Miếu tự điển” đóng trước chính giữa tờ giấy, tiếp đó dấu “Trần Miếu” (dấu nhỏ) được đóng phía dưới. (Những năm gần đây các tờ giấy được thay bằng vải để bền hơn tránh bị rách). Những lá ấn được đóng đầu tiên dành dâng lên các nơi thờ liên quan đến nhà Trần ở địa phương như: Đền Thiên Trường, đền Cố Trạch, chùa Phổ Minh, đình Tức Mặc, đình Động Kính, đình Thượng Bái, đình Vĩnh Trường, đình chùa Thượng Lỗi. Sau này còn dâng thêm ở các di tích thời Trần mới được phục dựng ở địa phương. Tiếp theo các lá ấn được lần lượt phát cho người tham dự và du khách.

Trước kia, khai ấn chỉ diễn ra trong phạm vi làng Tức Mặc, số người tham dự cũng ít, vì vậy các lá ấn được đóng ngay tại buổi lễ và phát cho ai có nhu cầu mang về nhà như một món lộc đầu xuân để cầu may. Những năm gần đây do lượng khách tham dự và có nhu cầu xin lá ấn quá đông, các lá ấn được đóng dấu từ trước đựng trong các hòm gỗ sơn son. Khi tiến hành Lễ Khai ấn các hòm ấn được dâng lên ban thờ các vua, việc khai ấn chỉ đóng một số lá mang tính tượng trưng sau đó hòm ấn được chuyển ra ngoài phát cho nhân dân tham dự.

Về ấn “Trần miếu tự điển” 

Ấn được làm bằng gỗ, bên ngoài bọc đồng, mặt ấn có kích thước 13cm x 13cm, khắc nổi 4 chữ Hán “Trần Miếu tự điển” theo kiểu chữ chân, mặt nam của núm ấn khắc chìm 4 chữ Hán “Tích phúc vô cương”. Trên núm ấn khắc 1 chữ 上 (Thượng) để khi đóng tránh nhầm. Ngoài ấn “Trần Miếu tự điển” còn 1 dấu nhỏ gọi là dấu Kiềm cũng được làm bằng gỗ, mặt dấu có kích thước 5cm x 2,5cm khắc nổi 2 chữ Hán “Trần Miếu” theo kiểu chữ triện, trên núm khắc chữ 正 (Chính). Khi khai ấn, ấn “Trần Miếu tự điển” đóng trước ở chính giữa tờ giấy, dấu kiềm “Trần Miếu” được đóng sau, ở phía dưới.

Về nội dung, ý nghĩa của ấn như sau:
– “Trần Miếu tự điển”: Nghĩa là điển lệ thờ tự tại miếu nhà (họ) Trần
– “Tích phúc vô cương”: Nghĩa là ban phúc lộc dài lâu mãi mãi
– “Trần Miếu”: Nghĩa là Miếu nhà Trần.
– Chữ “Thượng” và chữ “Chính” khắc trên núm ấn mang ý nghĩa khi đóng phải thuận theo hình thể chữ tránh đóng ngược.

Như vậy ấn “Trần Miếu tự điển” không phải là ấn hành chính vì nó không gắn với một đơn vị hành chính hay chức quan nào, đơn giản nó chỉ mang ý nghĩa về điển lệ thờ tự ở “Miếu Trần”. Tuy thế nhưng ấn này được thờ và tiến hành nghi Lễ Khai ấn trong một không gian thiêng, nơi thờ các vua Trần và Đức Thánh Trần nên nó mang yếu tố tín ngưỡng, tâm linh. Quan niệm trong dân gian khi có tờ lá ấn này cũng như lộc Vua, lộc Thánh ban cho để hy vọng có sự che chở, phù hộ trong cuộc sống (đương nhiên các ngài không bao giờ phù hộ cho những ai làm việc xấu).

Đền Trần Nam Định là một di tích quan trọng của quốc gia, được xây dựng trên cương vực Hành cung Thiên Trường – nơi ngự của các Thượng Hoàng thời Trần để quyết sách các công việc trọng đại của đất nước. Nơi đây là một trung tâm quyền lực, được coi là Kinh đô thứ 2 sau Thăng Long của Đại Việt ở thế kỷ XIII-XIV. Vì thế di tích hàm chứa nhiều giá trị lịch sử-văn hóa, trong đó lễ hội dân gian tại di tích cũng là những di sản văn hóa phi vật thể cần tiếp tục được nghiên cứu và ứng xử một cách thận trọng.

Lễ Khai ấn đầu xuân tại di tích là một tục vốn ban đầu chỉ diễn ra chủ yếu trong phạm vi làng Tức Mặc, sau này cùng với sự vận động phát triển của xã hội, nó đã trở thành một lễ hội lớn thu hút đông đảo khách thập phương đến dự xin ấn, đặc biệt là từ thập niên gần đây có sự tham dự của các cấp chính quyền địa phương, Lễ Khai ấn càng trở nên trang trọng với quy mô lớn mà công tác tổ chức chưa theo kịp.

Cũng giống như chợ Viềng Xuân ở Nam Định, hàng năm chỉ diễn ra một phiên trong một ngày, và đến nay cũng chưa thấy sử sách nào ghi chép về nguồn gốc lịch sử của nó. Nhưng nó vẫn hiển nhiên tồn tại như một nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân với mong muốn sự mở đầu cho một năm làm ăn may mắn “thuận buồm xuôi gió” có sự phù hộ của các đấng tối linh. Lễ Hội Khai ấn đền Trần có ý nghĩa lịch sử, nhân văn sâu sắc, là dịp để nhân dân tưởng nhớ về một trang sử hào hùng của dân tộc với các võ công, văn trị thời Trần, 3 lần kháng chiến chống xâm lược Nguyên-Mông thắng lợi. Đi dự Lễ Khai ấn đền Trần còn là một cuộc du xuân, hành hương về quê hương nhà Trần xin lộc cầu may để tin tưởng, hy vọng vào thành công trong cuộc sống, có chăng tồn tại chỉ là công tác đảm bảo an ninh trật tự và ý thức của mỗi người tham dự nơi chốn linh thiêng.

Nguyễn Văn Thư,

Giám đốc Bảo tàng Nam Định.

Tài liệu tham khảo:

1. Đại Việt sử ký toàn thư-Tập 2. NXB KHoa học xã hội. Hà Nội 1971
2. Gia phả “Trần Thị Xuân phái tộc” – Tư liệu Bảo tàng Nam Định
3. Trần Thị Đại Tôn từ đường – Tư liệu Bảo tàng Nam Định
4. Hồ sơ di tích đền Thiên Trường, đền Cố Trạch năm 1976- Tài liệu Bảo tàng Nam Định
5. Báo cáo kết quả tìm hiểu Lễ Khai ấn đầu xuân tại đền Trần Tư liệu Bảo tàng Nam Định
6. Báo cáo chuyên đề: Nghiên cữu Lễ hội Trần trên quê hương nhà Trần tại Nam Định (thuộc đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh: Lễ hội và các giải pháp quản lý lễ hội trên địa bàn tỉnh Nam Định, Sở VHTT Nam Định, năm 2007).

Posted in: Food for thought