Và một ngày dài hơn thế kỷ – Phần 53

Posted on March 6, 2015 by

0


Op-Economica, 6-3-2015 — Tiếp theo phần 52 (trang 295-298) là phần 53 này, từ trang 298 tới giữa trang 302…

Suốt tháng giêng năm ấy trời giá buốt và bầu trời mù mịt. Mà không biết ở đâu ra cái rét lại dồn đến Xarư-Ôzek nhiều đến thế! Các đoàn tàu qua lại được bọc ủ trong lớp tuyết lạnh cóng, trắng tinh, với những ổ trục bị đóng băng chặt cứng. Nhìn mà thấy lại, những toa két chở dầu, vốn đen thui, giờ đây dừng lại ở ga thành một hàng trắng toát trong bão tuyết và băng giá. Mà đến khi chúng tôi muốn chuyển bánh rời khỏi chỗ chẳng dễ dàng gì. Từng cặp đầu máy vai sát vai xô đi giật lại hồi lâu, quả thật là chúng phải gằng những chiếc bánh xe bị đóng băng dính chặt vào đường ray ra. Và khi những đầu máy cố gắng giật các toa tàu thì tiếng sắt thép va trạm vào nhau ầm ầm vang đi rất xa trong không trung dữ dội. Đêm đêm những đứa trẻ ở Bôranlư thức giấc vì tiếng động ầm ầm ấy.

Thêm vào đấy, giò lại bắt đầu cuốn tuyết lên thành đống trên các tuyến đường. Hết đống này đến đống khác. Gió như phát điên. Ở Xarư-Ôzek gió được hưởng cả một khoảng không gian rộng mở, không sao đoánh nổi bão tuyết sẽ ập đến từ hướng nào. Và bà con Bôranlư có cảm giác như là gió cố tình cuốn những đống tuyết vào giữa các đường tàu. Nó chỉ rình xem có chỗ nào còn trống để mà ùa tới, cuốn tuyết lên thành đống lấp hết cả các tuyến đường.

Eđigây, Kazangap cùng với ba công nhân làm đường nữa chỉ biết có mỗi việc là dọn sạnh tuyến đường, từ đầu nọ đến đầu kia, hết chỗ này sang chỗ khác, rồi lại trở về dọn những đoạn đường vừa mới dọn xong. May nhờ có chiếc xe gạt do lạc đà kéo cùng giúp sức. Toàn bộ phần bên trên nặng nề của cá đống tuyết được xe gạt kéo ra hai bên đường, chỗ còn lại đành dọn nốt bằng tay. Eđigây không thơi xostgif con Karanac và anh hài lòng vì đã có dịp ; làm cho nó mệt nhoài, dẹp đi cái sức mạnh cuồng loạn trong cơ thể nó, thắng nó vào xe kéo cùng với một con lạc đà ngang sức, dùng roi da thúc chúng kéo tuyết ra lề đường bằng một tấm ván dựng nằm ngang, phía sau nó là một vật cản nặng, chính Eđigây đã đứng trên vạt cản đó dùng trọng lượng của toàn thân mình đè nó xuống. Các thiết bị khác bây giờ còn chưa có. Người ta đồn rằng, những cái máy chuyên dừng cho việc dọn tuyết, những đầu máy có tác dụng gạt các đống tuyết sang hai bên đường đã ra khỏi nhà máy. Người ta hứa sắp tới sẽ gửi những chiếc máy ấy đến đây, nhưng cho đến nay thì những lời hứa ấy vẫn chỉ là những lời hứa.

Nếu như vào mùa hè phải mất đến hai tháng trời bị cái nóng thiêu đốt cho đến mụ cả người thì giờ đây lại cảm thấy khủng khiếp vì phải hít vào lồng ngực cái khí trời băng giá, tưởng như hai lá phổi bị xé rách ra. Song dù thế nào đi nữa thì các đoàn tàu vẫn cứ phải qua lại và mọi công việc vẫn đòi hỏi phải làm cho đủ. Eđigây râu ria tua tủa và vào mùa đông năm ấy, lần đầu tiên trong đám râu của anh ấy thấp thoáng những sợi bạc, cặp mắt anh sưng mọng lên vì thiếu ngủ, nhìn mặt mình trong gương mà phát sợ: xám xịt như một mảnh gang. Không lúc nào dám cởi bỏ chiếc áo lông cừu may lửng mặc bên ngoài, chẳng những thế lại còn thường xuyên phải mặc thêm chiếc áo mưa vải bạt có mũ trùm đầu. Dưới chân là đôi ủng da.

Nhưng dù Eđigây có làm việc gì đi nữa, dì có phải khó nhọc vất vả đến đâu thì câu chuyện về Abutalip vẫn không ra khỏi đầu anh. Câu chuyện ấy để lại một âm vang đau đớn trong lòng anh.  Anh và Kazangap vẫn thường cùng nhau suy đoán –vì sao mọi chuyện lại xảy ra như vậy mà không biết rồi chúng sẽ kết thúc thế nào. Kazangap thường im lặng nhiều hơn, bác có vẻ cau có và suy nghĩ một cách căng thẳng về điều gì đó của riêng mình. Và một lần nữa bác nói:

-Bao giờ mà chả vậy. Chờ cho đến khi người ta xem xét xong việc này thì…Người xưa nói quả không sai: “Khan[1] không phải là thần thánh. Không phải lúc nào oongta cũng nắm được mọi việc làm của bọn quan lại, còn bọn quan lại thì chẳng biết gì về lũ sai nha đi thu thuế ở ngoài chợ”. Từ xưa tới giờ là như vậy.

-Này, thôi đi ông ơi! Lại cũng ra vẻ một nhà thông thái nữa kia đấy, – Eđi gây chế giễu với thái độ bực bội- Có thời người ta đã cho chúng một trận, cái bọn “khan” đủ loại ấy. Nhưng  mọi chuyện đâu lại vào đấy.

-Thế thì còn ở đâu?-Kazangap hỏi, vẻ rất là có lý.

– Ở đâu với chả ở đâu!-Eđigây bực bội làu nhưng rồi cũng chẳng trả lời gì cả. Và cái câu hỏi hóc búa ấy anh cứ mang theo mãi trong đầu, không sao tìm được lời giải đáp.

Như mọi người vẫn biết, nỗi bất hạnh không đến một mình. Thằng con lớn của hai vợ chồng Kuttubaep-thằng Đaun-bị cảm lạnh rát nặng. Thằng bé sốt li bì và mê sảng, những cơn ho hành hạ nó, hopngj nó đau rát, Zaripa bảo nó bị viêm họng. Chị chữa cho nó bằng đủ các loại thuốc viên. Nhưng chị không thể luôn luôn ở bên cạnh con được: chị phải đi làm để còn kiếm sống, chị làm công nhân bẻ ghi. Lúc ban đêm, lúc ban ngày chị phải đi trực ca, Ukubala đành gánh lấy việc trong nom bọn trẻ. Hai đứa con mình và hai đứa của Zaripa, chị phải xoay xỏa với bốn đứa trẻ, vì chị hiểu rằng gia đình Abutalip đang lâm vào tình trạng bế tắc đến mức nào. Cả Eđigây cũng hết lòng giúp đỡ. Sáng sớm anh đi lấy than ở nhà kho đémang nhà cho họ và nếu như còn thì giờ, anh lại nhóm hộ cả bếp lò. Nhóm bếp lò đun bằng than đá cũng phải biết cách mới làm được. Anh đổ vào lò một lúc cả xô rưỡi than để giữ được hơi ấm suốt ngày cho bọn trẻ. Anh còn lấy cả nước ở trong thùng phi để ra ngoài tuyến đường cụt mang về cho chúng, rồi chẻ củi để nhóm lò. Có thấm gì đối với cái chuyện anh làm thêm việc này việc khác, cái chuyện bổ củi, xách nước và làm các công việc tương tự. Cái khó nhất là ở chỗ khác kia. Thật là không nỡ, thật là đau đớn, không sao chịu nổi, mỗi khi phải nhìn vào mắt những đứa con của Abutalip và trả lời các câu hỏi của chúng. Thằng lớn thì ốm nằm một chỗ, mà nó vốn đã là một đứa trẻ trầm tính rồi, nhưng còn thằng nhỏ, thằng Ermech, thì lại giống y như mẹ nó, nhiệt tình, hiền hậu và nhạy cảm, dễ xúc động, với nó xử sự thật khó khăn. Mỗi buổi sáng, khi Eđigây sang đưa tham và nhóm lò, anh cố gắng không làm cho bọn trẻ thức giấc. Nhưng rất ít khi anh ra được khỏi nhà mà không ai hay biết. Cái thằng Ermech tóc đen và và quăn ấy thể nào cũng sẽ thức dậy ngay. Và vừa mở mắt ra, câu hỏi đầu tiên của nó bao giờ cũng là:

-Bác Eđigây ơi, hôm nay “ba bé nhỏ” của cháu có về không?

Thằng bé chạy đến bên anh trong bộ quần áo ngủ và đôi chân trần, với niềm hy vọng chứa chan trong đôi mắt, tựa như chỉ cần Eđigây nói “có”-là nhất định ba nó sẽ về và sẽ lại ở nhà cùng với chúng. Eđigây ôm gọn thằng bé vào lòng, nó gầy gò ấm ấp, rồi anh lại đặt nó lên giường ủ trong chăn đệm. Và anh nói với nó như một người lớn vậy.

Ermech à, bác không rõ hôm nay ba cháu có về không, nhưng có gì thì ở ngoài ga lớn người ta phải đánh điện cho chúng ta biết là ba cháu sẽ về theo chuyến tàu nào chứ. Bởi vì, như cháu cũng đã biết rồi đấy, các đoàn tàu chở hành không không đỗ ở ga nhà. Trừ khi có lệnh của nhân viên điều hành cao cấp nhất của tuyến đường. Theo bác thì chỉ ngày một ngày hai nữa là họ sẽ phải báo tin thôi. Và lúc ấy thì bác cháu ta với cả anh Đaun nhữa, nếu như hôm ấy anh cháu khỏi ốm, cả ba sẽ cùng ra chờ tàu để đón ba.

-Chúng cháu sẽ bảo: kìa, ba bé nhỏ ơi, chúng con đây cơ mà!

-Ừ, tất nhiên rồi! Chúng ta sẽ nói như vậy,-Eđigây tỏ sự đồng tình bằng một giọng đầy phấn khởi.

Nhưng đánh lừa một thằng bé sáng ý đâu có dễ dàng gì.

-Bác Eđigây này, hay ta lại lên chuyến tàu chở hàng như cái dạo nào ấy, rồi tất cả cùng đi đến chỗ ông nhân viên điều hành cao cấp nhất của tuyến đường để nói với ông ta ra lệnh cho đoàn tàu chở ba bé nhỏ của cháu đỗ lại ở ga nhà mình, đi bác.

-Thế là lại phải tìm cách gỡ ra.

Nhưng dạo ấy là mùa hè, ấm áp. Chứ bây giờ thì cháu làm sao ngồi nổi ở tàu chở hàng được? Rét lắm. Gió kinh khủng, cháu thấy không, các cửa sổ bị băng đóng hết cả lại kia kìa. Bác cháu ta chẳng đi được tới nơi đâu, sẽ bị lạnh cóng như những cục băng máy. Không được, việc này nguy hiểm lắm.

Thằng bé lặng đi rầu rĩ.

-Thôi cháu cứ nằm yên đây nhé, bác còn xem anh Đaun cháy thế nào,-Eđigây tìm ra được một cớ, anh bèn đi đến bên giường đứa trẻ ốm, đặt bàn tay nặng nề đầy chai sẹo lên cái trán nóng hổi của thằng bé. Đaun vẻ mệt nhọc cố nhấc đôi mí mắt; đôi môi của nó, đỏ mọng vì cơn sốt nóng đang thiêu đốy, mỉm cười yếu ớt. Nó vẫn còn đang sốt. –Cháu đừng bỏ chăn ra. Cháu đang đầm đìa mồ hôi đây này. Cháu nghe bác nói đấy chứ, Đaun? Cháu sẽ lại bị cảm lạnh thêm đấy-Còn cháu, Ermech ạ, lúc anh cháu muốn đi giải, thì cháu mang chậu đến cho anh cháu nhé. Cháu có nghe thấy không? Để anh cháu khỏi phải dậy mà. Mẹ các cháu đi trực sắp về rồi đấy. Bác Ukubala sẽ sang đây ngay bây giờ, bác ấy sẽ cho các cháu ăn. Khi nào Đaun khỏi ốm thì hai anh em lại sang nhà bác, sang chơi với Saun và Sarapat nhé. Bác đã đến giờ phải đi làm đây, không thì tuyết dày thế kia, các đoàn tàu đến phải dừng lại hết cả mất thôi,-Eđigây nói với bọn trẻ trước khi ra khỏi nhà.

Nhưng Ermech vẫn không để cho anh yên.

-Bác Eđigây ơi,-nó nói với anh khi anh đã ở bên ngưỡng cửa.-Nếu như tuyết rơi thật nhiều và con tàu chở ba bé nhỏ của cháu dừng lại, thì cháu cũng sẽ ra dọn tuyết. Cháu có cái xẻng con đấy, bác ạ.

Eđigây để lại hai đứa trẻ, bước ra khỏi nhà với cảm giác nặng nề và đau đớn trong tim. Nỗi uất ức, niềm thương xót và cảm giác về sự bất lực của mình cào xé lfong anh. Lúc ấy anh căm ghét cả thế gian này.-Và anh trút cơn thịnh nộ ấy vào gió, tuyết, vào những đống tuyết đang ùn lên vào những con lạc đà mà anh đã bắt làm việc một cách không thương xót, anh làm hùng hục chẳng khác nào một con thú, tựa như chỉ cần một mình anh cũng đủ sức để ngăn cản cả cơn bão tuyết vàng Xarư-Ôzek này.

[1] Khan: vua (ở các nước thuộc dân tộc Mông Cổ và Tuyết).

——
Phần 54