Vườn Chẫu Mưa Xuân

Posted on March 7, 2015 by

4


Op-Economica (Ất Mùi), 7-3-2015 — Người thành phố không thích mưa xuân, vì cho rằng là bẩn, lầy lội.

Nhưng mưa xuân là nguồn nước và tạo ra thời tiết lý tưởng cho cây cối. Với kế hoạch phát triển chùm ngây với những lý do rất thiết thực của năm nay, chưa bao giờ tôi lại mong mỏi từng ngày mưa đến như bây giờ.

Nhìn những hình ảnh dưới đây ở vườn Chẫu thì không muốn tin cũng không được.

* * *

Cây mã đề dưới đây thực sự là loại rau sạch, thuốc quý trong vườn nhà. Tên đông y của mã đề là “xa tiền thảo”. Tại sao lại có tên như vậy?

Tương truyền, thời Tây Hán, danh tướng Mã Vũ bị quân Khương đánh, chạy vào rừng hoang vu, khí hậu khắc nghiệt. Ngày nóng đổ lửa, đêm mưa trút nước. Binh sĩ hết lương, không nước sạch. Đa số mắc bệnh lạ bụng trướng, đái buốt, đái ra máu rồi chết. Vùng hoang vu không có dân cư, không có thầy thuốc. Tình cảnh ngàn cân treo sợi tóc.

Trong lúc tưởng số phận đã định đoạt, có người lính thấy ngựa không bị đái ra máu. Xem kỹ thì do ngựa ăn một loại cây thân thảo có hình dáng như tai trâu. Người lính đó thử hái ăn, và vài ngày sau bệnh thuyên giảm, rồi khỏi hẳn. Nghe tình hình, Mã Vũ hạ lệnh cho binh sĩ tìm cỏ đó hái ăn và cho ngựa ăn. Dần dần, mọi người khỏi bệnh. Lấy làm kỳ lạ, ông hỏi: – Các ngươi kiếm đâu ra loại thảo dược đó? Binh sĩ trả lời: – Thưa tướng quân, loại cỏ đó mọc ngay trước bánh xe của ngài đấy. Mã Vũ cười nói: – Đúng là Trời giúp ta thoát nạn.

“Xa tiền thảo” được đặt theo ý nghĩa “Cỏ mọc ngay trước xe”! Đó là cây mã đề.

2015-03-07_bong ma de

Cây mã đề đang trổ hoa. Người ta hay nghĩ đến bông mã đề khi nói về công dụng lợi tiểu, chữa nóng trong và đặc biệt là tiêu sỏi đường tiết niệu. Nhưng công năng chữa bệnh của bông mã đề hơn thế nhiều, nhờ thành phần hoá học cây có chứa glucosid, và lá có chất nhầy, chất đắng, chứa carotene, sinh tố C, K, T, acid citric.

– Mã đề tính hàn, vị ngọt, không độc. Có tác dụng lợi tiểu, thanh phế can, trừ phong nhiệt, thẩm thấp khí trong bàng quang, chữa đẻ khó, ho, trừ đờm, cầm đi ngoài khi bị tả, giúp sáng mắt, bồi bổ cơ thể.

– Được dùng làm thuốc thông tiểu, chữa ho lâu ngày, viêm khí quản, tả lỵ, đau mắt đỏ.

– Thuốc viên bào chế từ cao mã đề và terpin đã được áp dụng trên lâm sàng, điều trị hiệu quả các bệnh viêm cấp tính đường hô hấp trên, làm nhẹ quá trình cương tụ niêm mạc hô hấp, chữa ho và phục hồi tiếng nói ở bệnh nhân viêm thanh quản cấp.

– Cao nước mã đề đã được áp dụng cho hơn 200 bệnh nhân viêm amiđan cấp, kết quả 92% khỏi bệnh, 8% đỡ. Tác dụng hạ sốt, phục hồi số lượng bạch cầu và làm hết các triệu chứng tại chỗ của mã đề được đánh giá là tương đương các thuốc kháng khuẩn thường dùng.

– Mã đề cũng được sử dụng trong các dược phẩm trị mụn nhọt và bỏng. Thuốc dạng dầu chế từ bột mã đề khi đắp lên mụn nhọt có thể làm mụn đỡ mung mủ và viêm tấy.

– Thuốc mỡ bào chế từ cao đặc mã đề đã được sử dụng để điều trị các ca bỏng 2-45% diện tích da, đạt kết quả tốt. Bệnh nhân cảm thấy mát, dễ chịu, không xót, không nhức buốt, dễ thay bông và bóc gạc. Vết bỏng đỡ nhiễm trùng, ít mủ, giảm mùi hôi thối, lên da non tốt, thịt phát triển đều, không sần sùi. Bệnh nhân giảm được lượng thuốc kháng sinh dùng toàn thân.

– Nhiều nghiên cứu cũng đã cho thấy, chất polysacharid trong hạt mã đề có tác dụng nhuận tràng, trị táo bón mạn tính.

Món ăn bổ dưỡng từ cây bông mã đề

* Cháo mã đề: Món ăn này chế biến từ lá mã đề, gạo tẻ, hành, muối, có tác dụng thanh nhiệt, trừ đờm, lợi tiểu, sáng mắt. Cho tới ngày nay, cháo mã đề vẫn rất nổi tiếng và được ưa chuộng tại Trung Quốc.

* Canh mã đề: Món canh mã đề được chế biến từ lá mã đề, hành, gừng, muối ăn có tác dụng chữa bệnh đái ra máu, đau buốt niệu đạo rất hiệu nghiệm.

* * *

Cây vông vang trồng đã 3-4 tháng, bây giờ đang ra lộc. Cây vông hoa vàng này chỉ cần cắm cành tẻ là lên. Lúc trước nghe nói thế còn bán tín bán nghi, bây giờ thì đã có bằng chứng… trong số 4 cành tẻ giâm xuống đất, chắc chắn đã có 2 cây lên lá mới (một cây trong hình dưới đây). Cây vông còn có tên là hải đồng bì, thích đồng bì, cây cao 10-20m, thân có nhiều gai ngắn; lá có 3 lá chét; ha màu đỏ tươi; quả nang dài, chứa 5-6 hạt.

2015-03-07_cay vong

Lá vông có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, gây ngủ; co bóp các cơ. Do đó, đắp lá vông (hơ nóng) vào hậu môn có thể làm co thắt hậu môn, làm co búi trĩ. Nếu búi trĩ nhỏ, mới mắc bệnh, có thể khỏi bệnh sau khi đắp vài tuần.

Tuy nhiên, công dụng nổi tiếng nhất của cây vông là chữa chứng bệnh mất ngủ, khó ngủ, đau đầu. Lá vông có vị đắng nhạt, hơi chát, tính bình; có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, làm an thần, gây ngủ, hạ nhiệt, hạ huyết áp, sát trùng, tiêu tích, trừ phong thấp,… Được dùng dưới dạng thuốc sắc, cao lỏng hoặc làm rau ăn.

Một số cách sử dụng lá vông cực kỳ đơn giản mà hiệu nghiệm:

– Lá vông loại bánh tẻ một nắm, rửa sạch, luộc hoặc nấu canh ăn hàng ngày. Có thể phối hợp với lá dâu non hoặc hoa thiên lý, mỗi thứ một nắm nấu canh ăn hàng ngày.

– Lá vông phơi khô tái, thái nhỏ, cho vào ấm, đổ nước sôi vào hãm như nước chè, uống trước khi ngủ.

– Lá vông phơi khô 15g, cắt nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày.

Người ta cũng dùng lá vông để chữa các vết thương lâu lành, bằng cách lấy 20g sắc kỹ, rửa hàng ngày. Và kết hợp: Lá vông 50g phơi khô, tán mịn, rắc kín, băng lại. Hay chữa sâu răng, làm mau hết đau nhức bằng vỏ vông 8g, nhân hạt na 5g, muối ăn 2g giã nhuyễn, ngậm ít một vào nơi đau trong 10-15 phút, nhổ bỏ, 2-3 lần trong ngày…

* * *

Chùm ngây là tiêu điểm chính hiện nay của vườn Chẫu.

Một loại mấy cây chùm ngây lên tươi sau 3 ngày mưa liên tục. Dưới đây chỉ là vài ảnh tiêu biểu. Hiện nay đã có khoảng 40 cây chùm ngây non đang chờ mưa để lớn. Vừa rồi, chúng lớn khá chậm, có thể còn phải chờ cho rễ bắt sâu vào đất nền và thích nghi (do ban đầu chúng được trồng trong bầu cây, tuy an toàn nhưng bị hạn chế về dinh dưỡng).

2015-03-07_chum ngay 1

2015-03-07_chum ngay 2

2015-03-07_chum ngay 3

2015-03-07_chum ngay 4

Sau đợt mưa và tới hè, ta có dịp quan sát tốc độ và quy luật sinh trưởng của chùm ngây trực tiếp. Đó là thông số quan trọng để suy nghĩ việc tạo sản lượng, chế biến và bảo quản.

* * *

Cây đỗ trọng khá lớn trong vườn phía sau, bên cạnh làm một cây non chưa cao lắm. Cây lớn thì hiện nay đã cao vượt 5 mét.

2015-03-07_do trong

Đỗ trọng là loại thuốc quý có nhiều công năng được biết đến từ lâu trong dân gian. Đỗ trọng (tư trọng hoặc ty liên bì) có tên khoa học là Eucommia ulmoides Oliv., họ đỗ trọng (Eucommiaceae), là thân cây gỗ sống lâu năm, hàng năm rụng lá. Cây cao từ 15-20m, đường kính độ 33-50cm, cành mọc chếch, tán cây hình tròn.

Vỏ cây màu xám. Lá mọc cách, hình tròn trứng, phía cuống hình bầu dục hay hình thùy, đuôi lá nhọn, lá xanh có răng cưa; mặt lá nhẵn bóng, màu xanh đậm, bóng láng, mặt trái lá non có lông tơ, lúc già thì nhẵn bóng không còn lông, có vân vằn, cuống lá có rãnh, không có lá bắc.

Hoa đơn tính khác gốc; hoa đực và hoa cái không có bao hoa; hoa đực mọc thành chùm; hoa cái tụ tập 5-10 cái ở nách lá. Quả có cánh mỏng dẹt, ở giữa hơi lồi, trong có một hạt. Hạt dẹt, hai đầu tròn, có thể dùng làm giống.

do_trong

Bộ phận được dùng làm dược liệu là vỏ thân cây đã phơi hay sấy khô. Từng tấm vỏ phẳng hoặc hai bên mép hơi cong vào, to nhỏ không đều, dày 0,2-0,5 cm. Mặt ngoài vỏ màu nâu nhạt hoặc màu hạt dẻ, có nhiều nếp nhăn dọc và vết tích của cành con. Mặt trong vỏ màu tím sẫm, trơn, chất giòn, dễ bẻ gẫy, mặt bẻ có nhiều sợi màu trắng bạc, có tính đàn hồi như cao su. Thành phần hoá học của đỗ trọng gồm: guttapeca, alkaloid, flanovoids, iridoids, glicosides, phenol, geniposid, acid geniposidic, ulmoprenol, acid chlorogenic, aucubin, loganin, chất màu, albumin, chất béo, tinh dầu và muối vô cơ.

Đỗ trọng là thuốc hạ huyết áp tự nhiên an toàn. Nước sắc và rượu đều có tác dụng hạ huyết áp. Đặc biệt, nước sắc đỗ trọng sao (sao nhỏ lửa cho đứt các sợi nhựa) có tác dụng hạ huyết áp tốt hơn lúc còn sống.

Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, đỗ trọng có tác dụng giảm hàm lượng cholesterol trong máu, làm giãn mạch, tăng lưu lượng máu trong động mạch vành, trấn tĩnh, an thần, kháng khuẩn, kháng viêm…

Một số bài thuốc sử dụng đỗ trọng

Ôn thận tráng dương, dùng trong trường hợp thận hư, liệt dương, di tinh, mộng tinh: Lộc nhung 125g, đỗ trọng 250g, ngũ vị tử 63g, thục địa 500g, mạch môn 250g, sơn thù nhục 240g, thỏ ty tử 250g, ngưu tất 250g, câu kỷ tử 250g, sơn dược 250g. Tất cả nghiền thành bột mịn, luyện với mật làm hoàn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g, chiêu với nước muối nhạt.

Chắc xương khoẻ lưng, trị thận hư, đau lưng, tứ chi mỏi: Đỗ trọng 16g, ngưu tất 16g, thỏ ty tử 16g, nhục thung dung 16g, hồ lô ba 16g, nhục quế 8g, bổ cốt chỉ 16g, đương quy 16g, tỳ giải 16g,  bạch tật lê 16g, phòng phong 16g, bồ dục lợn 1 đôi. Bồ dục lợn đun chín, nghiền nát, sấy khô. Nghiền các dược liệu khác thành bột mịn, trộn với bột bồ dục lợn, nghiền lại, luyện với mật làm hoàn. Ngày 2 lần, mỗi lần 12g, chiêu với nước đun sôi.

Cố kinh an thai, dùng trong trường hợp phụ nữ có thai người yếu, thai không an, có nguy cơ sảy thai, trụy thai: đỗ trọng sống 63g, xuyên tục đoạn 12g, sơn dược 12g, cam thảo 4g, đại táo 40 quả, sắc lấy nước uống.

* * *

Cây vối cũng ưa nước… Công dụng của vối thì đã rõ từ lâu, Ộp cũng đã có bài từ lâu lắm rồi.

2015-03-07_la voi

Lá vối chứa tanin, flavonoid, Alcaloid, tinh dầu, các bộ phận khác chứa sterol, chất béo…

Nước vối có vị ngăm ngăm đắng (rất nhẹ), hơi chát, hơi nồng (nếu uống tươi), có tính mát, có ít độc; có tác dụng thanh nhiệt giải biểu, sát trùng, chỉ dương, tiêu trệ. Nhân dân chỉ cần chế đơn giản bằng cách lấy lá, nụ hoa vối pha trà để uống là đã có vị thuốc thiên nhiên. Ngoài ra, lá, vỏ thân, hoa vối cũng làm thuốc chống đầy bụng, khó tiêu; nước sắc đậm đặc của lá vối dùng để sát trùng, rửa mụn nhọt, lở loét. Những tính năng dược liệu quý giá này là do trong lá và vỏ vối có kháng sinh thực vật. (Xem bài: Vối – cây thuốc tuyệt vời)

Cách sử dụng lá vối cực kỳ đơn giản, nhà Chẫu đã sử dụng cả năm nay, và hoàn toàn hài lòng: hái lá vối tươi, rửa thật sạch, bỏ vào túi rồi treo lên chỗ thoáng gió. Treo đủ lâu để lá khô lại, chuyển sang màu lá cây khô (nâu nhạt). Khi thấy đã khô thì tìm các hộp cất cho sạch, giữ khỏi ẩm mốc. Khi dùng, chỉ cần 3 lá khô, bỏ vào đun sôi với khoảng 1 lít nước. Sau khi sôi giữ trong vòng 5-10 phút. Sau đó tắt và để nguội dần, chế nước đó uống cả ngày.

Uống nước lá vối này không còn nồng ta-nanh, mùi thơm dịu, không còn vị đắng chát. Ngủ ngon, tiêu hóa rất tốt, không bị táo và khó tiểu tiện, trị mụn nhọt rất hiệu quả.

* * *

Lá lốt bị vùi dập sau đợt xây dựng, bây giờ gặp mưa xuân lên rầm rập khắp vườn.

2015-03-07_la lot

Theo kết quả nghiên cứu hiện đại, lá lốt có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm và giảm đau khá tốt. Trong y học cổ truyền lá lốt có vị nồng, hơi cay, tính ấm, có công dụng ôn trung (làm ấm bụng), tán hàn (trừ lạnh), hạ khí (đưa khí đi xuống) và chỉ thống (giảm đau), thường được dùng để chữa các chứng đau nhức xương khớp khi trời lạnh, chứng ra nhiều mồ hôi ở tay chân, mụn nhọt lâu liền miệng…

Các bài thuốc chữa bệnh từ lá lốt:

– Kiết lỵ: Lấy một nắm lá lốt sắc với 300 ml nước, chia uống trong ngày.

– Chữa đau bụng do nhiễm lạnh: Lá lốt tươi 20g, rửa sạch, đun với 300ml nước còn 100ml. Uống trong ngày khi thuốc còn ấm, nên uống trước bữa ăn tối. Dùng liên tục trong 2 ngày.

– Chữa bệnh tổ đỉa ở bàn tay: 30g lá lốt tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy 1 bát nước đặc, uống trong ngày. Còn bã cho vào nồi đun với 3 bát nước, đun sôi khoảng 5 phút rồi vớt bã để riêng. Nước dùng để rửa nơi có tổ đỉa, sau đó lau khô lấy bã đắp lên, băng lại. Ngày làm 1-2 lần, liên tục trong 5-7 ngày.

– Chữa chứng ra nhiều mồ hôi ở tay, chân: Lá lốt tươi 30g, rửa sạch, để ráo cho vào 1 lít nước đun sôi khoảng 3 phút, khi sôi cho thêm ít muối, để ấm dùng ngâm hai bàn tay, hai bàn chân thường xuyên trước khi đi ngủ tối. Thực hiện liên tục trong 5-7 ngày. Hoặc lá lốt 30g, thái nhỏ, sao vàng hạ thổ. Sắc với 3 bát nước còn 1 bát. Chia 2 lần, uống trong ngày. Uống trong 7 ngày liền. Sau khi ngừng uống thuốc 4 đến 5 ngày lại tiếp tục uống một tuần nữa.

– Mụn nhọt: Lá lốt, lá chanh, lá ráy, tía tô, mỗi vị 15g. Trước tiên lấy lớp vỏ trong của cây chanh (bỏ vỏ ngoài) phơi khô, giã nhỏ, rây bột mịn rắc vào vết thương, sau đó các dược liệu trên rửa sạch, giã nhỏ đắp vào nơi có mụn nhọt rồi băng lại. Ngày đắp 1 lần. Đắp trong 3 ngày.

– Chữa đau nhức xương, khớp khi trời lạnh: 5-10g lá lốt phơi khô (15-30g lá tươi), sắc 2 bát nước còn ½ bát, uống trong ngày. Uống khi thuốc còn ấm, nên uống sau bữa ăn tối. Mỗi liệu trình điều trị 10 ngày hoặc lá lốt và rễ các cây bưởi bung, vòi voi, cỏ xước (mỗi vị 30g), tất cả đều dùng tươi thái mỏng, sao vàng, sắc với 600ml nước, còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục trong 7 ngày.

– Viêm nhiễm âm đạo, ngứa, ra nhiều khí hư: Lấy 50 gr lá lốt, 40 gr nghệ, 20 gr phèn chua, đổ nước ngập thuốc khoảng hai đốt ngón tay, đun sôi thì bớt lửa sôi liu riu khoảng 10-15 phút rồi chắt lấy một bát nước, để lắng trong, dùng rửa âm đạo. Số thuốc còn lại đun sôi để xông hơi vào âm đạo, rất hiệu nghiệm.

– Đau bụng do lạnh: Lá lốt tươi 20g, rửa sạch, đun với 300ml nước còn 100ml. Uống trong ngày khi thuốc còn ấm, nên uống trước bữa ăn tối. Dùng liên tục trong 2 ngày.

– Đầu gối sưng đau: Lá lốt, ngải cứu mỗi vị 20g (tất cả dùng tươi), rửa sạch, giã nát, thêm giấm chưng nóng, đắp, chườm nơi đầu gối sưng đau.

– Chữa bệnh tổ đỉa ở bàn tay: 30g lá lốt tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy 1 bát nước đặc, uống trong ngày. Còn bã cho vào nồi đun với 3 bát nước, đun sôi khoảng 5 phút rồi vớt bã để riêng. Nước dùng để rửa nơi có tổ đỉa, sau đó lau khô lấy bã đắp lên, băng lại. Ngày làm 1-2 lần, liên tục trong 5-7 ngày.

Đặc biệt, món canh lá lốt nấu với thịt, cá là món ăn bổ dưỡng, giúp người già chống đỡ được một số bệnh tật, nhất là làm giảm đau nhức xương, khớp nhất là trong lúc giao mùa, từ mùa hại chuyển sang mùa thu.

* * *

Vài loại rau, cây khác…

Lấp ló vài quả cà chua chín. Rất nhiều quả đang ra, bênh cạnh nhiều quả đã lớn, chờ chín.

2015-03-07_ca chua chin

Rau ngót quen thuộc. Lá non xanh mướt trong những ngày mưa xuân.

2015-03-07_rau ngot

Dọc mùng cũng lên. Ai cũng biết dọc mùng ưa nước. Mưa xuân là thời tiết rất thích hợp để cây lớn nhanh, ra lá mới.

2015-03-07_doc mung

Đu đủ khắp nơi trong vườn đang lên.

2015-03-07_du du 2

2015-03-07_du du

Mấy cây hoa trang trí lối đi.

2015-03-07_hoa

Đến hẹn lại lên, hồng bì đang trổ hoa. Nằm ở chỗ khuất nên ít được để ý.

2015-03-07_hong bi

Lên xanh…

2015-03-07_len xanh

Bên trong và xung quanh vườn Chẫu nhiều nhãn. Hiện đang là thời kỳ nhãn ra hoa.

2015-03-07_nhan 1

2015-03-07_nhan 2

2015-03-07_nhan 3

2015-03-07_nhan 4

Rau dền cơm, bây giờ hiếm thấy. Rau dền này nấu canh cua thì hơn đứt bất kỳ loại rau nào khác, kể cả thiên lý, mồng tơi, rau đay… Nhưng bao nhiêu cây mới đủ một mớ rau nấu canh?!

2015-03-07_rau den com

Hàng cây sắn lên tốt. Chỉ gác cành đã tỉa lá, cốt làm tay vịn cho các cây đậu quả. Bây giờ sẵn cũng lên.

2015-03-07_san len

Tổ dế non. Thấy mùn nhỏ, tôi đoán tổ dế, nhưng lại ngoi lên giữa đường đi (phương án xếp gạch thành đường đi mà không đổ xi-măng chết mạch đã cho công năng đúng như mong muốn)

2015-03-07_to de non

Bụi tre cũng xanh tươi trong đợt mưa xuân này.

2015-03-07_tre xanh

Bụi trúc đùi gà ở cổng ra vào nay đã lớn. Cổng này – mặc dù rất lớn, bề thế – ít được sử dụng kể từ khi vườn Chẫu mở rộng về phía sau, và có cửa đi bổ sung. Cây cối trở nên tốt um. Nếu ít để ý, có khi cây vú sữa ra hoa đậu quả lúc nào không hay!

2015-03-07_truc dui ga

Câ xương sông vọt cao ngất, đang trổ hoa và sắp lụi. Do đất chỗ đó tốt, cây cao hơn gần 4 mét. Chưa bao giờ tôi thấy cây xương cao như vậy. Tới hè này, hạt cây phát tán theo gió, rồi lại hàng trăm cây con tiếp tục hành trình sự sống.

2015-03-07_xuong song

Dấu hiệu sự sống không chỉ với cây. Mùa này bọn gà cũng thi nhau đẻ. Có thể sắp tới là cả bồ câu.

2015-03-07_trung ga rung

Cô mái tre đang thực hành « đạo ấp trứng »

2015-03-07_ap trung

Nghe kể lại rằng 2 quả này là do cô gà mái tre hất ra ngoài, vì phát hiện ra là trứng gà rừng bỏ vào bổ sung (đẻ mới). Cô ta kiên quyết không ấp trứng của bọn khác loài! Thế nhưng lại đang ấp trứng của đôi trĩ đỏ khoang cổ.

Vidéo tình hình sinh sống của cư dân chim

Dân số chim đang trên đà tăng!


Copyright ©2015 Vườn Chẫu | Làng Ộp.