Và một ngày dài hơn thế kỷ – Phần 78

Posted on April 14, 2015 by

0


Op-Economica, 14-4-2015 — Tiếp theo phần 77 (trang 391-397) là phần 78 này, từ trang 397 tới giữa trang 403…

Karanac đứng không còn sức đủ sức động đây, và ở nó không còn chút sức lực nào ngày trước, không còn chút oai phong nào ngày xưa. Buồn rầu và thảm hại nó chỉ lúc lắc đầu và cố đứng cho vững trên bốn vó. Eđigây thấy thương hại còn atan. Anh về nhà và trở lại với một chậu đầy hạt lúa mỳ chắc mẩy. Anh rắc lên trên nửa đâu muối.

– Đấy, ăn đi, – anh đặt chậu thức ăn trước mặt con lạc đà.  – Có thể mày lấy lại được chút ít sức lực. Rồi tao sẽ đưa mày tới bãi chăn. Nằm nghỉ rồi sẽ hồi phục dần dần.

Ngày hôm ấy anh đã có một cuộc trò chuyện với Kazangap. Tự anh đến nhà Kazangap và ngỏ câu chuyện sau:

– Tôi đến gặp anh, anh Kazangap ạ, có một câu chuyện sau đây. Anh đừng ngạc nhiên là hôm qua tôi không muốn trò chuyện, lại còn nói huyên thuyên gì đó, vậy mà hôm nay lại tự động đến đây. Có một việc hệ trọng. Tôi muốn trả lại anh con Karanac. Tôi đến để cám ơn. Ngày trước anh đã tặng nó cho tôi, khi đáy nó còn là một con lạc đà bú sữa. Xin cám ơn. Nó đã giúp đỡ tôi nhiều. Mới đây tôi đã đuổi nó đi, tôi không còn sức chịu đựng nữa, hôm nay nó lại lần về. Chân lê không nổi, hiện nay nó đang nằm ở bãi chăn. Qua một hai tuần nó lại bình phục. Sẽ khỏe mạnh và đầy sức lực. Chỉ có điều phải chăm sóc nó.

– Khoan – Kazangap ngắt lời – Anh định dẫn chuyện đến chỗ nào thế? Tại sao bỗng nhiên anh lại quyết định trả con Karanac cho tôi? Tôi đòi hỏi anh điều gì đó sao?

Và khi ấy Eđigây đã giãi bầy tất cả những gì anh muốn nói. Đầu đuôi là thế này này, tôi toan tính đem cả gia đình đi nơi khác. Ngán đất Xaru – Ôzek rồi đã đến lúc phải thay đổi chỗ nương thân. Có thể sẽ khá giả hơn. Kazangap chăm chú nghe và đã nói với anh những điều sau:

– Tùy anh, đó là việc của anh. Chỉ có điều, tôi nghĩ là bản thân anh không hiểu anh muốn gì. Thôi được, cho là anh ra đi, nhưng anh đâu có thể rời bỏ được chính bản thân mình. Dù anh có đi tới đâu chăng nữa, nhưng anh không thể trốn khỏi nỗi bất hạnh của mình. Nó sẽ bán theo anh khắp mọi chốn. Không, Eđigây, nếu anh là một gighit[1] thì anh hãy thử chế ngự bản thân mình ở chính nơi này. Còn bỏ ra đi – thì đó đâu có phải là can đảm gì. Ai mà chẳng có thể bỏ ra đi được. Nhưng không phải bất cứ ai cũng có thể thắng được bản thân mình.

Eđigây không tán thành với Kazangap, mà cũng chẳng tranh cãi. Chỉ tư lự suy nghĩ và ngồi thở dài nặng nề. “ Mà có thể dù sao ta vẫn cứ ra đi, tìm đến những miền đất khác? – anh nghĩ. – Nhưng liệu ta có thể quên được chăng? Mà tại sao lại phải quên đi? Nhưng rồi tiếp theo sẽ ra sao? Và không thể suy nghĩ, mà suy nghĩ thì năng nề. Còn với Zaripa thì thế nào nhỉ? Lúc này cô ấy đang ở đâu cùng với hai đứa con thơ dại? Có ai hiểu và giúp đỡ cho cô ấy khi có chuyện gì không? Và Ukubala đâu có dễ dàng gì – đã bao nhiêu ngày tháng cô ấy lặng lẽ chịu đựng sự lạnh nhạt của bản thân mình, thái độ cau có của mình…Mà vì tội tình gì kia chứ?”

Kazangap hiểu điều gì đang diễn ra trong suy nghĩ của Eđigây Bão tuyết và để làm cho dịu bớt, bác lên tiếng, sau khi hung hắng ho cho Eđigây chú ý. Bác nói với Eđigây , khi Eđigây đưa mắt nhìn lên:

– Mà kể ra tôi việc gì phải thuyết phục anh kia chứ. Eđigây, dường như tôi muốn được lợi lộc gì cho mình không bằng ấy. Chính bản thân anh cũng đã hiểu tất cả. Và nói cho cùng, thì anh đâu có phải Raimala-aga, mà tôi cũng đâu phải Abdinkhan. Cái chính là chung quanh đây hàng trăm dặm chúng ta không có lấy cây phong con để cho tôi có thể trói anh vào. Anh tự do, anh cứ làm theo ý anh muốn. Chỉ có điều hãy suy nghĩ cho kỹ trước khi rời khỏi chốn này.

Những lời nói ấy của Kazangap còn in lại mãi trong tâm tư Eđigây.

***

Raimala-aga là một ca sĩ rất nổi tiếng của thời đại mình. Từ trẻ ông đã lừng danh. Nhờ ơn thượng đế ông đã kết hợp được trong mình ba ngọn nguồn đẹp đẽ: ông vừa là nhà thơ, vừa là nhạc sĩ phổ nhạc cho chính cá bài ca của mìn, lại vừa là người trình diễn kiệt xuất, một ca sĩ có giọng khỏe. Raimala-aga đã làm cho những người đồng thời sửng sốt. Chỉ cần ông chạm tay vào những sợi dây đàn, là lời ca sẽ tuôn chảy theo tiếng nhạc, lời ca được sáng tác ran gay trước mắt những người nghe. Và sang ngày hôm sau thì bài ca đã truyền từ miệng người này sang người khác, bởi vì, nghe xong khúc hát của Raimala, mỗi người đều mang theo mình làn điệu ấy về các bản làng và cá trại du mục. Đây là bài ca của ông về các chàng kỵ sĩ thời ấy truyền tụng:

Con ngựa đang hăng thấy được vị ngọt ngào của dòng nước mát.

Khi nó vực uống dòng sông từ núi chảy xuôi.

Còn khi anh phóng ngựa tới gặp em, từ trên yên sà xuống đón gặp đôi môi.

Anh được biết niềm hoan lạc của cuộc đời trần thế.

Raimala-aga ăn vận rất đẹp và lộng lẫy, chính thượng đế đã cho phép ông được làm như vậy. Ông đặc biệt thích những chiếc mũ sang trọng, bọc bằng những bộ lông thú quý nhất, những cái mũ khác nhau dành cho mùa đông, mùa hè và mùa xuân. Ông còn có một con ngựa gắn bó với ông như hình với bóng, – con ngựa Xarala mà ai cũng biết, nó thuộc nòi akhantekin, màu hung vàng, do những người Tuốcmêni tặng ông tại một bữa tiệc mà ông được mời tới dự. Những lời người ta khen con ngựa Xarala cũng chẳng kém gì những lời khen chủ nó. Người sành ngựa cảm thấy một niềm khoái lạc khi được ngắm nhìn dáng đi của nó, uyển chuyển và uy nghi. Bởi thế nên những người thích đùa mới bảo: toàn bộ tài sản của Raimalai là âm thanh của cây đàn đômbra cộng với dáng đi của con Xarala.

Và quả có như vậy thật. Suốt cuộc đời mình, Raimala-aga sống trên lưng ngựa với cây đàn đômbra trong tay. Ông không dành dụm được chút của cải nào, mặc dù danh tiếng của ông lừng lẫy. Ông đã sống như con họa mi vào tháng năm, luôn luôn dự các bữa tiệc tùng, luôn luôn vui chơi, đâu đâu người ta cũng dành cho ông sự tôn kính và trìu mến. Còn cho con ngựa – sự chăm nom và thức ăn. Tuy nhiên cũng có những kẻ giàu có và quyền thế lại không ưa ông – bọn họ cho rằng ông đã sống một cuộc đời phóng đãng, vô tích sự, như ngọn gió giữa mùa đông. Mà sau lưng ông họ đã nói hẳn ra với nhau như vậy.

Nhưng khi Raimala-aga xuất hiện ở một bữa tiệc thịnh soạn, thì cùng với những âm thanh đầu tiên của cây đàn đômbra và tiếng ca của ông cất lên là mọi người đều lặng đi, mê mẩn nhìn vào tay ông, vào đôi mắt và gương mặt ông. Người ta nhìn vào đôi tay ông bởi không có tình cảm nào của trái tim người mà đôi tay ấy không tìm ra được hòa âm trên các sợi dây đàn; nhìn vào đôi mắt ông, bởi tất cả sức manh của trí não và tinh thần cháy rực trong đôi mắt ấy, đôi mắt không ngừng biến đổi; nhìn vào gương mặt ông, bởi trông ông thật đẹp và đầy hứng khởi. Khi ông hát gương mặt ông biến đổi như mặt biển trong ngày nổi gió…

Các bà vợ theo nhau rời bỏ ông vì tuyệt vọng không còn sức để mà chịu đựng, nhưng có nhiều người đàn bafkhacs đêm đêm lại khóc thầm, mơ ước về ông.

Cuộc đời của ông cứ trôi đi như vậy, từ bài ca này đến bài ca khác, từ đám cưới này sang đám cưới kia; từ bữa tiệc này  tới bữa tiệc nọ, và rồi tuổi già lén đến tự lúc ào chẳng có ai hay. Thoạt đầu trên hàng ria xuất hiện đôi sợi bạc, sau đó chòm rây bạc trắng ra. Cả đến con Xarala cũng không còn như trước – thân hình gầy guộc, đuôi và bờm thưa dần, chỉ qua dáng đi là còn có thể đoán ra được rằng xưa kia đây là một chú ngựa tuyệt vời. Và Raimala-aga bước vào mùa đông của cuộc đời như một cây phong đỉnh cao nhọn hoắt đang khô héo dần đi trong nỗi cô đơn kiêu hãnh của mình…Và bây giờ mới vỡ lẽ ra ra là ông không có nhà, không gia đình, không đàn gia súc, không có bất cứ thứ của cải gì. Em trai ông là Abdinkhan cho ông trú ngụ, nhưng trước khi làm việc ấy thì trong lúc có mặt đầy đủ họ hàng thân thích ông ta đã nói toạc tất cả nỗi bực bội và sự oán trách của mình. Tuy nhiên ông ta vẫn ra lệnh dựng cho ông một căn lều riêng, ra lệnh nuôi nấng và giặt giũ quần áo cho ông…

Raimala-aga bắt đầu hát về tuổi già, bắt đầu suy nghĩ về cái chết. Những bài ca vĩ đại và buồn đau ra đời vào thời điểm ấy. Và đến lượt cả ông trong những khi nhàn rỗi cũng bắt đầu nhận thức ra cái điều mà các nhà tư tưởng đã nghĩ tới ngay từ buổi đầu –con người ta sinh ra để làm gì trên thế gian này. Và ông đã không còn đi đây đi đó như ngày xưa nữa, không còn lui tới các bữa tiệc khách, tiệc cưới, mà thường quanh quẩn ở trong nhà, càng ngày càng hay dạo trên cây đàn đômbra những giai điệu buồn thương, sống bằng những hồi tưởng, càng hay ngồi lâu thêm với các bậc trưởng lão bàn bạc về kiếp phù sinh ở trần thế…

Và thượng đế là người chứng giám cho ông, Raimala-aga hẳn đã bình thản kết thúc cuộc đời, nếu như không xảy ra một chuyện rung chuyển đời ông ở tuổi xế tà.

Một bữa Raimala-aga không nén nổi đã đóng yên lên con ngựa Xarala già cỗi của mình và đi dự một ngày hội lớn để giải buồn. Ông mang theo sẵn cây đàn đômbra. Những con người đáng kính trọng hết sức tha thiết mời ông đến dự đám cưới, nếu như không hát nữa thì cũng ở chơi. Raimala-aga đã mang theo ý định đó ra đi- với tâm hồn thanh thản, bới ý định nhanh chóng trở về.

Người ta đón tiếp ông hết sức trọng vọng, mời vào căn lều đẹp nhất, vòm trắng. Ông ngồi cùng với những người danh giá, khề khà uống sữa ngựa, trò chuyện  những câu chuyện đan chính và nói những lời nói thiện cảm.

Còn trong làng bữa tiệc diễn ra linh đình, tiếng ca hát, tiếng cười, tiếng nói của những chàng trai và cô gái, tiếng vui đùa vang lên từ khắp chốn. Nghe rõ chuyện người ta đang chuẩn bị đua ngựa mừng đôi tân hôn, việc những người đầu bếp đang hối hả chuẩn bị bên các đống lửa, tiếng bầy ngựa ầm ĩ tự do rượt đuổi nhau ngoài đồng cỏ, những con chó nhởn nhơ đùa rỡn và ngọn gió từ thảo nguyên thổi về đưa theo hương cỏ hoa…Nhưng hơn hết tất cả mọi cái khác thính giác của Raimala-aga hào hứng đón bắt tiếng nhạc và lời ca trong các căn lều xung quanh, tiếng cười của các cô thiếu nữ chốc chốc lại vẳng lên ở chung quanh bắt ông lắng tai…

*Còn nữa

[1] Trang nam nhi

Advertisements