“Thuở trời đất nổi cơn gió bụi / Khách phờ-đờ nhiều nỗi truân chuyên”

Posted on May 30, 2015 by

1


Op-Economica, 30-5-2015 — Theo đuổi Phờ-đờ (Ph.D) là một công việc vất vả, nhiều người không lạ điều này. Sự hứng thú ngậm sâu trong cuống họng thứ giai điệu ngọt ngào, nhìn ngắm phờ-đờ như anh nông dân say mê đòng lúa mới chứa giấc mơ mênh mang nồi cơm:

“Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng,
mênh mông bát ngát
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng,
bát ngát mênh mông”

vào lúc nào đó, sẽ tuột vỏ lụa mỹ miều để lộ thân dáng suy dinh dưỡng của giấc mơ vào đoạn bị chủ nợ truy sát.

Theo cập nhật dữ liệu điều tra thực tế, “lúc nào đó” chính là bây giờ.

Khi trước, trên Ộp có bài về tình trạng việc làm của phờ-đờ ở Anh quốc, một trong những cái nôi / trung tâm khoa học (cũng là nơi tiêu thụ sức lao động của một lực lượng trí thức) lớn. (“Nên trung thực với học viên”)

Một vài bài khác cũng bóng gió (gián tiếp) nói về tình trạng không có việc làm cho những người mất một phần lớn thời gian đời người đeo đuổi việc học tập, trau dồi phương pháp kỹ năng thực hiện công việc khoa học, vd. “Con đường của người thắp lửa”.

Nhưng trực diện như nội dung một bài mới tuần này của Science thì không nhiều. Bài có tên dễ hiểu: “Cảm thấy bế tắc” (DOI: 10.1126/science.caredit.a1500139).

2015-05-30_feeling_stuck
Bài báo tìm hiểu những câu chuyện người-thật-việc-thật trong số nghiên cứu sinh phờ-đờ vướng nỗi truân chuyên, quyết định bỏ dở giữa chừng. Trong đó nhiều người đã đi 3/4 chặng đường, thậm chí dừng cuộc chơi ngay ở phút áp chót.

Hãy thử xem chuyện gì đã xảy ra với họ.

Rất nhiều người trong cuộc chơi đó đã hiểu sâu sắc, và từ rất sớm rằng, họ sẽ phải “làm việc với nhận thức đầy đủ rằng họ có thể không tìm được việc làm.”

Chẳng phải tất cả học tập và rèn luyện để cuối cùng đi làm việc hay sao? Vậy viễn cảnh không có việc làm ấy thậm vô lý chứ!? Vô lý như vậy, sao lại có thể kéo dài cảnh sống phập phồng?

Có nguyên nhân cả. Để hình thành mơ ước, nguyện vọng, theo đuổi khoa học mất nhiều thời gian. Đằng sau đó là một mục tiêu “ngầm” thường trực trong đầu là các vị trí giảng dạy suốt đời. Nó tồn tại lâu đến mức có xu hướng trở thành một phần của mọi suy nghĩ. Con người dính chặt vào các giá trị tự định đã tồn tại quá lâu.

Tuy thế, tới một lúc, người ta nhận ra rằng, công cuộc theo đuổi ấy có những sức ép mà không phải ai cũng có khả năng chịu đựng. Một nghiên cứu sinh mô tả suy nghĩ kiểu này với biên tập của Science Career:

“Tham gia chương trình Ph.D. giống như chăm sóc một đứa trẻ sơ sinh không bao giờ chịu ngủ.” Các môi trường nghiên cứu còn có kiểu chính trị đặc thù, và sức ép cũng như mối đe dọa thường trực số phận nguồn tài chính cho nghiên cứu luôn lơ lửng trên đầu. Tới mức, rồi người ta phải tự hỏi: “Tất cả những nhọc nhằn, khổ ải này có đáng không?”

Tôi nghĩ là đáng, nếu triển vọng nghề nghiệp tốt. (Điều này hẳn là phải đồng biến với thu nhập từ công việc khoa học.) Tuy nhiên các giảng đường, phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu – là những nơi cung cấp việc làm lâu dài cho phờ-đờ – lại không còn là nguồn cầu sức lao động từ nhiều thập kỷ nay. Trong khi đó số tiến sỹ tốt nghiệp ra đã tăng khá nhanh trong cùng thời kỳ. Thế là thực tiễn phát sinh cái nhức nhối: con đường nghề nghiệp mà đã từ lâu lắm rồi gần như mặc định cho người theo đuổi nghề nghiên cứu chỉ là giấc mơ khả dĩ với một số ít người mà thôi.

Có con số mô tả tình trạng này. Một vài lĩnh vực có nhu cầu chuyên gia cao như toán học, khả năng có việc làm đâu đó có thể lên tới mức 40%. Nhưng rất nhiều lĩnh vực chỉ có mức cầu dưới 10% số Ph.D. ra lò.

Nếu vậy thì số còn lại biết làm gì?

Phần lớn đều làm một dạng việc gọi là “tự tái sinh” bản thân. Quyết định dừng giữa chừng quá trình theo đuổi Ph.D. cũng có thể là một phần của sự “tự tái sinh”.

Người ta nhận thấy xu hướng chung phần đông sợ công nhận thất bại, sợ làm thất vọng người hướng dẫn khoa học, sợ dấn sâu vào thực tế tiêu tốn tiền bạc ở trường học, và sợ rằng không biết sắp tới sẽ làm gì. Nói ngắn gọn thì: “Mọi ẩn số cuộc sống đều đáng sợ.”

Galen Panger, một nghiên cứu sinh Ph.D. của UC, Berkeley, nằm trong nhóm phục hồi một nghiên cứu được đánh giá cao, công bố năm 2004, tìm hiểu sức khỏe tâm thần của học viên bậc sau đại học. Nghiên cứu này rất giá trị, mặc dù đã có tuổi đời một thập niên, nhưng các kết luận vẫn còn được sử dụng trong các chính sách hiện tại (vì thế nên UC, Berkeley quyết định phục hồi nó), đề cập tới trạng thái ức chế và trầm cảm, mở rộng thêm sang yếu tố liên hệ về mức độ hạnh phúc.

Kết quả cập nhật mới cho thấy mức độ ức chế tâm lý rất cao, lên tới 47% số học viên học Ph.D. Bên cạnh đó, lại có những người cảm thấy hạnh phúc hơn nhờ chính công việc nghiên cứu vất vả này.

Câu hỏi là: Vậy yếu tố nào có tính dự báo cho mức độ hạnh phúc của học viên? Đó chính là niềm tin của họ đối với triển vọng nghề nghiệp trong tương lai, sau khi hoàn thành chương trình Ph.D.

Như thế, có vẻ như triển vọng vừa nói hoàn toàn có thể chỉ là ảo giác.

Trong bài báo của Tiến sỹ Jonathan Wolff – giáo sư triết học của University College Lond – trên The Guardian, thống kê còn kinh hoàng hơn những con số vừa nói ở trên. Tại Anh, cứ 200 nhà khoa học hoàn thành Ph.D thì chỉ có 7 người tìm được việc làm chính thức trong giới khoa bảng. Ông gọi hiện tượng đó là “sự ứ đọng tiến sỹ” trên phạm vi toàn cầu.

Cách thực tế hơn chính là bình tĩnh rà soát danh mục các cơ hội có thể phù hợp với bản thân, và tránh ảo tưởng bất cẩn: “Don’t clap your hands over your ears.”

Trên thực tế, có vấn đề tâm lý như sau: “Rất nhiều giáo sư chỉ muốn sản xuất ra những nhà máy nghiên cứu, và họ cho rằng tất cả học sinh của họ đều sẽ làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu, nhưng điều đó phi thực tế.” Có rất nhiều công việc khác nữa cần đến trí tuệ và năng lực nghiên cứu ứng dụng.

Để khắc phục phần nào tình trạng căng thẳng và ức chế tâm lý quá mức, những lời khuyên về ngủ đủ, tạo lập các mối quan hệ xã hội, dành thời gian sống bên ngoài môi trường nghiên cứu thuần túy đã được thẩm định giá trị. Chúng có giá trị không chỉ với người đang theo đuổi nghiên cứu, mà có thể cả những người mới quyết định hết sức khó khăn: rời bỏ công việc nghiên cứu đã theo đuổi cả chục năm trời.

Bài báo kết thúc với một đánh giá của một người đang vật lộn trong cuộc, cố gắng bằng nhiều cách phục hồi lại lửa nhiệt tình qua nhiều hoạt động bên lề khoa học như sau: “Vấn đề không phải là bạn không thể thực hiện; vấn đề chỉ là để hoàn thành mục tiêu đó có nhiều khó khăn.”

May thay, những tấm gương kiên trì học tập và sự nhân ái của tấm lòng khoa học cao cả vẫn luôn lấp lánh vẻ đẹp trong đời, như việc cụ bà 102 tuổi Syllm-Rapoport sẽ nhận bằng Ph.D sau 77 năm chờ đợi – và phấn đấu không ngừng trở thành chuyên gia tầm cỡ thế giới – nắm giữ kỷ lục về sự kiên nhẫn, một câu chuyện cảm động.

Nhưng như vậy vẫn chưa hết. Thực ra, việc kết thúc Ph.D thành công mới chỉ chìa một chiếc vé vào ga, để lên một chuyến tàu khắc kỷ đường rất xa, mà nhiều khi không về bến nào cả, mang tên Nghiên-Cứu-Khoa-Học. Hành khách trên tàu ngoài việc cầm vé có ghi chữ Khoa-Học-Gia thì tuyệt nhiên không có quyền lợi nào cả, kể cả tiền vé.


©2015 Làng Ộp Cuối Tuần.