Hãy nghiên cứu vì niềm đam mê

Posted on June 19, 2015 by

0


Tác giả: Marek Wagner, 19-6-2015 — Vào dịp Gặp mặt Lindau thứ 65 các khoa học gia Nobel, diễn ra từ 28-6 đến 3-7 ở Đức, khoảng 650 sinh viên, nghiên cứu viên sẽ hòa vào không khí trao đổi với 66 khoa học gia được GT Nobel, và dự giảng, thảo luận, giám sát lớp. Một trong số các học giả là Richard J. Roberts, GT Nobel 1993 về sinh lý / dược cùng với Phillip Sharp “nhờ phát hiện các gien phân tách.”

2015-06-19_RobertsTrả lời phỏng vấn Science Careers, giáo sư Roberts chia sẻ những suy nghĩ của mình về việc xây dựng nghề nghiệp khoa học.

Hỏi: Ông thích thú điều gì ở khoa học?

Đáp: Khoa học vừa là sở thích vừa là nghề nghiệp của tôi. Vui kinh khủng. Giống như đứa bé, khi tôi còn trẻ, tôi rất tò mò về mọi thứ xung quanh. Rất may, tôi duy trì được sự tò mò ấy không bị va đập văng đi mất khỏi con người mình, và tớ ngày hôm nay, tôi lợi dụng tính tò mò của bản thân để tìm hiểu cuộc sống xung quanh mình. Kết quả là, tôi nghĩ về những thứ mới mẻ hoặc có những phát hiện mới mỗi ngày.

Hỏi: Những nét đặc trưng nào làm nên một nhà khoa học thành công?

Đáp: Sự bền bỉ giải quyết mọi vấn đề xuất hiện dọc đường đi. Cần nhận thức rõ rằng rất nhiều thí nghiệm (phép thử) thất bại, nhất là khi tiến vào một lĩnh vực hoặc mảng sơ khai mà kiến thức ta hiện có rất ít. Tôi rất thích khi mà các thí nghiệm thất bại lặp đi lặp lại bởi vì thường điều đó có nghĩa là giả thuyết cơ bản của chúng ta—và vì thế những tiên đề từ đó giúp đặt ra giả thuyết—bị sai và Tự Nhiên đang cố gắng dậy bảo chúng ta điều gì đó. Như thế, một phát hiện đáng kể đang chờ được khám phá.

Các nhà khoa học giỏi luôn mở rộng đầu óc đón nhận các giả thiết mới và những cơ hội thí nghiệm. Thường thì một kỹ thuật mới ứng dụng cho một bài toán cũ sẽ tiết lộ những đặc trưng mới chưa từng được dự báo trước đó—một lần nữa lại là một cơ hội để tạo ra một phát hiện khoa học.

Các nhà khoa học thành công sẽ cũng thường xuyên quan sát những bài toán hay cần giải. Họ thường cũng hoài nghi những giải thích nghe có vẻ quá đơn giản hóa hoặc không được ủng hộ qua những bằng chứng vững vàng.

Hỏi: Thế nào mà ông lại nhận một vị trí nghiên cứu độc lập?

Đáp: Trong thời kỳ nghiên cứu ở Harvard, tại phòng thí nghiệm Jack Strominger, tôi tiến hành công việc tương đối độc lập, nhưng khi cần thì được hỗ trợ tuyệt vời. Nhờ thế việc chuyển tiếp sang một vị trí độc lập chính thức tại Cold Spring Harbor Laboratory đối với tôi khá thuận lợi.

Hỏi: Thời điểm nào là hợp lý để chuyển đổi sang nghiên cứu độc lập?

Đáp: Ngay khi có thể (ASAP). Các nhà nghiên cứu thường dễ dàng có năng lực sáng tạo khi còn trẻ, vì họ không bị hạn chế bởi nỗi sợ hãi. Điều này khiến họ sẵn sàng thách thức những thứ giáo điều, và dám dấn thân—cả hai đặc tính này đều rất căn bản đối với một quá trình sáng tạo.

Hỏi: Ông đã bao giờ trải qua cảm giác tự nghi ngờ năng lực bản thân?

Đáp: Tôi tin là hầu hết các nhà khoa học đều thi thoảng tự nghi ngờ mình, nhưng về cơ bản, những người khá thì ít hơn—hoặt ít ra họ không chia sẻ sự tự ngờ vực bản thân ấy với người khác. Tôi thì vẫn thường tin vào khả năng và quan điểm của mình, mặc dù khi tôi già đi, tôi nhận ra rằng năng lực của mình giảm sút so với khi còn trẻ.

Hỏi: Ông có lời khuyên gì cho những người đang lên kế hoạch nghề nghiệp với con đường nghiên cứu khoa học?

Đáp: Hãy tìm cho mình một lĩnh vực mà bạn có thể đặt trọn vẹn đam mê và tập trung toàn tâm toàn ý. Đừng hiểu như thế nghĩa là bạn không thể thay đổi một khi xuất hiện những thứ hay ho trên đường đi, nhưng bạn sẽ hạnh phúc và thành công hơn nếu bạn yêu việc mình đang theo đuổi. Toàn bộ ngành sinh học đang ở vào giai đoạn mà chúng ta biết rất ít, nhưng để có thể nói rằng ta hiểu biết rõ về sự sống thì chẳng biết thế nào là nhiều cả. Tôi nghĩ rằng ngành sinh-tin là một lĩnh vực đang lớn mạnh và rất nền móng đối với nghiên cứu tương lai trong sinh học. Đến tận cùng, hầu như mọi thứ chúng ta cần biết về sự sống sẽ được làm sáng tỏ nhờ phân tích sinh-tin (bioinformatic) về chuỗi DNA. Chúng ta phải cải thiện rất nhiều nữa tính có thể dự báo chức năng từ chuỗi.


Science 19 June 2015: Vol. 348 no. 6241 p. 1394; DOI: 10.1126/science.348.6241.1394