Văn hóa không sợ hãi thúc đẩy những hãng công nghệ khổng lồ Mỹ

Posted on June 20, 2015 by

2


New York Times, 18-6-2015 (tác giả: James B. Stewart) — Với thông báo chính thức mới trong tháng về việc Cộng đồng Âu Châu (EU) điều tra hãng công nghệ Amazon về hành vi phản cạnh tranh (có thể) trong việc bán sách điện tử (e-books), nhiệt huyết chống độc quyền ở Châu Âu dường như chạm đến đỉnh cao mới về độ nóng bỏng. Apple, Google và Facebook đều trở thành đối tượng điều tra, và bây giờ tới lượt Amazon trở thành tâm điểm của ít nhất 3 hướng điều tra.

Nhà chức trách chống độc quyền hàng đầu của Châu Âu, Margrethe Vestager, đang muốn chúng ta tin rằng việc rất nhiều tập đoàn Mỹ trở thành mục tiêu điều tra chỉ là sự tình cờ: “Sự kiện này chỉ phản ánh rằng có nhiều công ty mạnh ở Mỹ đã gây ảnh hưởng lên thị trường số hóa đâu đó,” theo lời bà ta nói với Bloomberg trong tháng.

Nhưng cho dù điều đó đúng đi nữa, thì tại sao lại có tình trạng đó? Tại sao Châu Âu không thúc đẩy kiểu năng lực sáng tạo giúp sinh sôi nảy nở hàng loạt những công ty công nghệ thành công rực rỡ?

Nói theo cách khác, khi nào thì những nhà chức trách Mỹ điều tra và khởi kiện chống lại một công ty công nghệ Âu Châu vì đã thống lĩnh thị trường? (Trả lời: không bao giờ.)

“Không có mấy công ty công nghệ Châu Âu hoạt động tại Mỹ có sức mạnh thị trường đáng kể,” theo đánh giá của giáo sư Scott Hemphill, nghiên cứu về chống độc quyền và tài sản trí tuệ tại Trường Luật, New York University. “Vì vậy không có gì ngạc nhiên rằng các cơ quan chức trách về chống độc quyền Mỹ chẳng mấy khi để ý tới các công ty này.”

Còn đây là so sánh nổi bật: Ở Mỹ, 3 trong số 10 hãng lớn nhất xếp theo mức vốn hóa thị trường là các hãng công nghệ trong 50 năm qua: Apple, Microsoft và Google. Ở Châu Âu, không có một hãng công nghệ nào nằm trong top 10.

Song nếu có khu vực nào đó trên thế giới có thể cạnh tranh thành công với Mỹ về sức mạnh công nghệ, dường như đó chỉ có thể là Châu Âu. Cộng đồng Âu Châu có nhiều trường đại học đáng tôn kính, một lực lượng lao động có trình độ và được đào tạo rất tốt, người tiêu dùng có kỹ năng công nghệ và giàu có và những nguồn vốn đầu tư dồi dào.

Châu Âu đã từng có một lịch sử dài chứa đầy những phát minh làm thay đổi thế giới, bao gồm cả phát minh máy in, thấu kính quang học sử dụng trong kính hiển vi và viễn võng và động cơ hơi nước.

Nhưng gần đây thì sao? Chẳng còn mấy nữa. King Digital Entertainment, người sáng lập ra video game Candy Crush và bây giờ đóng đô ở London, được thành lập chừng 10 năm trước ở Thụy Điển, đã từng nổi lên như một “lò” sáng tạo trò chơi video. Một hãng Đức, Karlheinz Brandenburg, được ghi danh trong việc tạo ra chuẩn định dạng MP3 cho âm nhạc số hóa, và ứng dụng truyền thông Skype được phát kiến bởi nhóm 2 người Bắc Âu và 3 người Estonia. Thế nhưng phải chờ Apple tạo ra thiết bị iPod MP3 và eBay mua Skype năm 2005. (Bây giờ lại thuộc về Microsoft.)

Không phải những điều này không gây chú ý gì ở Châu Âu. Tháng trước, EU tiết lộ cái gọi là chiến lược “Một thị trường số thống nhất” nhằm củng cố sức mạnh những nhà khởi nghiệp công nghệ Châu Âu và tháo gỡ những rào cản đối với phát kiến sáng tạo. Các nước Châu Âu đã cố gắng bắt chước tái tạo mật độ tới hạn của Silicon Valley với những trung tâm công nghệ như Oxford Science Park ở Anh, “Silicon Allee” ở Berlin và Isar Valley ở Munich, và “Silicon Docks” ở Dublin.

“Họ đều thèm muốn một Silicon Valley,” Jacob Kirkegaard, nhà kinh tế Đan Mạch và thành viên của Viện Kinh tế quốc tế Peterson cho biết. “Nhưng không có trung tâm nào trong số này có thể so sánh với quy mô và mức độ tập trung cho những phát kiến công nghệ thực sự sáng tạo đột phá như ở Mỹ. Châu Âu và phần còn lại của thế giới cố gắng chơi trò chạy đuổi, và càng chơi thì những người ra chính sách ngày càng tuyệt vọng.”

Petra Moser, giáo sư kinh tế tại Stanford và Europe Center của trường, sinh ra ở Đức, cũng đồng ý rằng “người Âu đang rất lo lắng.”

“Họ đang cố gắng tái tạo lại một thứ Silicon Valley ở những nơi như Munich, nhưng cho tới giờ thì chẳng mấy hứa hẹn,” bà đánh giá. “Những khác biệt về văn hóa và tổ chức rõ là quá lớn.”

Đang tồn tại những rào cản cấu trúc và tổ chức kìm hãm sự sáng tạo công nghệ ở Châu Âu, chẳng hạn nguồn vốn mạo hiểm quá ít ỏi, luật tuyển dụng lao động xo cứng cản trở tăng trưởng. […] Những rào cản lớn nhất là tính chất văn hóa.

Thường người ta hay bỏ qua khi bàn đến thành công của những công ty khởi sự non trẻ Mỹ là một số lượng rất lớn thất bại. “Thất bại nhanh, thất bại thường xuyên” là một khẩu quyết của Silicon Valley, và tự do sáng tạo được gắn không tách rời với tự do thất bại. Ở Châu Âu, thất bại vẫn còn mang theo hình bóng của một thứ sỉ nhục (ở Mỹ hầu như không còn quan niệm này). Quy định pháp luật về phá sản vẫn còn mang nặng tính trừng phạt, tương phản rõ rệt so với Mỹ, nơi mà phá sản chỉ đơn giản là nghi thức qua đường đối với rất nhiều người khởi nghiệp thành đạt sau này.

Moser nhắc lại về một nhà kinh doanh phải tuyên bố phá sản ở một thành phố quê nhà ở Đức đã tự tử. “Ở Châu Âu, thất bại vẫn bị coi là một bi kịch cá nhân. Ở đây đó là một phù hiệu danh dự. Môi trường như vậy không khuyến khích việc chấp nhận rủi ro và tinh thần khởi nghiệp.”

Lúc mà David Byttow, người sáng lập ứng dụng xã hội ẩn danh Secret, tuyên bố anh ta đóng cửa công ty non trẻ có trụ sở San Francisco, anh này thậm chí còn chẳng cho thấy một chút gì nao núng. Anh ta viết trên blog: “Tôi tin vào giá trị của việc thất bại nhanh để đi tiếp và chỉ còn vấp phải những thất bại mới, kiểu khác.”

Ngày nay không còn chút nào cách hiểu về sỉ nhục tại Silicon Valley nếu ai đó bị sa thải; bản thân Steve Jobs đã từng bị đuổi khỏi Apple. “Các công ty Mỹ cho phép nhân viên rời bỏ và thử nghiệm những kế hoạch riêng,” Moser nói. “Vì vậy, nếu có hiệu quả, tốt thôi, công ty mẹ sẽ mua lại công ty khởi nghiệp. Nếu kế hoạch hỏng, công ty thuê lại nhân viên. Hệ thống này rất tuyệt vời. Nó cho phép con người thử nghiệm mọi thứ. Ở Đức, bạn không thể làm việc đó. Người ta sẽ chống lại bạn. Người ta coi đó là không trung thành. Đó là một kiểu đạo đức khác.”

Steve Jobs, trái, và Steve Wozniak ở Apple năm 1976.

Steve Jobs, trái, và Steve Wozniak ở Apple năm 1976.

Người Âu cũng kém nhạy cảm với loại đổi mới công nghệ có thể đột phá và phá hủy thị trường truyền thống, mà đại diện tiêu biểu là kiểu sản phẩm Google hay Facebook, theo Kirkegaard.

Ông dẫn ra ví dụ Uber, loại dịch vụ gọi xe mà mặc dầu nghe tên có vẻ rất Đức lại là một mô hình kinh doanh khởi nghiệp đặc trưng Mỹ. Uber được chào đón nhiệt liệt ở Châu Âu như một thứ virus, và việc chào đón Uber nói lên rất nhiều điều về chất lượng của các nhà điều hành taxi hiện nay.

“Nhưng nó còn sâu hơn thế nhiều,” ông Kirkegaard nhận định. “Người dân New York không hoài cổ gì những taxi vàng trên đường. Ở London, những chiếc taxi đen lại được xem như thứ làm nên hình tượng London. Người ta thích nó như vậy. Người Mỹ có xu hướng hành xử cân nhắc hợp lý và ít cảm xúc hơn đối với hàng hóa và dịch vụ họ tiêu dùng, bởi vì không cần phải gắn tiêu dùng với đặc tính vùng hay quốc gia.”

Một trong những phát kiến vĩ đại nhất của Châu Âu là mô hình tiền thân của trường đại học kiểu hiện đại: Bologna, thành lập năm 1088. Nhưng với tư cách trung tâm về nghiên cứu và đổi mới, các trường đại học Châu Âu đã phải nhường lại ngôi vị lãnh đạo cho các trường đại học Mỹ từ rất lâu rồi.

Với việc nhấn mạnh vào kiểm tra và phân loại quá sớm, hệ thống giáo dục Châu Âu có xu hướng trở nên quá mức khắc khổ. “Nếu bạn không học giỏi ngay ở tuổi 18, bạn bị loại khỏi cuộc chơi,” giáo sư Moser nhận xét. “Điều này đã bỏ phí nhiều tài năng đáng lẽ có thể tỏa sáng nhưng lại không bao giờ có được cơ hội. Kẻ học giỏi nhất nhờ bài kiểm tra trí nhớ kiểu thuộc lòng ở tuổi 17 có thể là kẻ không có năng lực sáng tạo ở tuổi 23.” Bà nói thêm rằng rất nhiều sinh viên dồi dào khả năng ở Châu Âu đã sang học ở Mỹ và cuối cùng ở lại.

Bà hiện nay đang nghiên cứu về năng lực sáng tạo. “Hệ thống giáo dục Mỹ có tính khoan dung hơn nhiều,” theo giáo sư Moser. “Học sinh có thể học đuổi và tiếp sau đó lại trở nên xuất sắc.”

Thậm chí ngay cả phương pháp nuôi dưỡng trẻ em mà người Âu vẫn thường hay khoe, bà tin rằng cũng quá cứng nhắc. Mặc dù bà thừa nhận rằng vẫn chưa có đủ bằng chứng khoa học mạnh để khẳng định quan điểm riêng của bà, nhưng “trẻ em châu Âu có thể cư xử đúng mực, nhưng trẻ em Mỹ cuối cùng lại có năng lực tự do khám phá những thứ mới mẻ.”

Bất kỳ một thứ nào trong những thứ đáng nói này đều vô cùng khó thay đổi, thậm chí ngay cả khi ta giả định rằng Châu Âu thực sự muốn thay đổi. “Ở Châu Âu, sự ổn định được đề cao,” theo Moser. “Sự bất công rất khó được khoan dung. Tồn tại cả một văn hóa chia sẻ. Con người với nhau không cạnh tranh tới tắt thở. Tiền không phải thứ duy nhất quan trọng. Những thứ này có thể là những điều tốt đẹp.” Nhưng đáng tiếc là người Âu không thể có cùng một lúc cả hai thứ. Bà cho rằng những nhà sáng tạo thành công nhanh chóng nhận ra rằng quá khó để thay đổi những quy tắc văn hóa đã sâu đậm này.

Ông Kirkegaard cũng đồng tình. “Người châu Âu là người bảo thủ, với chữ ‘c’ nhỏ” ông nói. “Họ khá muốn giữ mọi thứ theo cách đang diễn ra.”


http://www.nytimes.com/2015/06/19/business/the-american-way-of-tech-and-europes.html (Bản dịch của Làng Ộp)

Posted in: Socio-cultural