Bình duyệt: “kín”, “hở” và phê bình “nhầm”

Posted on June 21, 2015 by

0


Op-Economica, 21-6-2015 — Các nghiên cứu khoa học thường đi đến một giai đoạn quan trọng là xuất bản / công bố chính thức. Việc công bố chính thức một công trình khoa học – ở dạng bài báo trên tập san hay một bài trong sách chuyên khảo – giúp sản phẩm thực sự bước vào một chu kỳ sống. 

Việc cấp giấy khai sinh này thường trải qua công đoạn “bình duyệt” – tức là được thẩm định về mặt chất lượng bởi một số nhà nghiên cứu có uy tín và đủ năng lực đánh giá xem liệu kết quả và kiến thức mới đó có thực sự đáng giá không.

Bình duyệt “kín” là một phương pháp phổ biến. Kín một chiều tức là người bình duyệt công trình biết tác giả là ai, nhưng ngược lại thì không. Kín hai chiều tức là cả hai đều không thể biết danh tính của nhau. Theo tư duy truyền thống, giới khoa học quan niệm bình duyệt “kín” giúp quá trình đánh giá khách quan, mọi đánh giá chỉ căn cứ trên chất lượng công trình, mà không quan tâm tới cá nhân tác giả, tránh được những định kiến hay sự nể nang có thể gây phương hại tới việc công bố kết quả khoa học.

Thế nhưng, về sau này, người ta lại cũng có những bằng chứng cho thấy rằng, việc bình duyệt “hở” không gây phương hại gì tới kết quả và chất lượng của công trình được đăng, chẳng hạn như nghiên cứu của Rooyen et al. (1999) hay Wash et al. (2000).

open

Trong khi đó, rõ ràng bình duyệt “hở” tạo ra sự tin cậy, khả năng đối thoại hiệu quả, và một quá trình minh bạch hơn. Thế là cả một trào lưu cổ vũ bình duyệt “hở” rùng rùng chuyển động. Một vài tạp chí thúc đẩy việc xây dựng cơ chế bình duyệt cải cách này, kèm theo với trào lưu xuất bản mở.

Bàn mãi chuyện “hở” và “kín” rồi, các nhà nghiên cứu lại còn quay sang chuyện bàn bình duyệt có gì sai lầm (tức là đâu phải thứ dùng quen rồi, thấy cũng khá ngon lành rồi, là sẽ cứ thế tốt mãi). Thậm chí có người uy tín như Smith – từng là tổng biên tập của BMJ – còn cho rằng trong nhiều trường hợp mà ông biết, việc quyết định đăng hay không có kiểu cách không khác mấy tung xu sấp-ngửa (Smith, 2006). Tệ hại hơn, quá trình thẩm định này đã từng dẫn đến bê bối ăn trộm ý tưởng của tác giả. Đó là trường hợp một người tên là Vijay Soman, từng bình duyệt cho New England Journal of Medicine (một tập san rất uy tín), đã trộm ý tưởng của tác giả gửi bài, bịa đặt số liệu và nộp bài cho một tạp chí khác cũng rất uy tín là American Journal of Medicine. Rất may sau đó người ta phát hiện ra, và cuối cùng Soman cũng bỏ trốn.

Dù sao thì công bằng cũng là việc quá khó. Smith kể rằng, khi còn trẻ, ông đã từng nhận được bài của Karl Popper nộp cho BMJ. Ông phân vân mãi vì bài thì không có gì hay, mà ý tưởng lại còn cũ tới 20 năm, nhưng áp lực do tên tuổi Popper tạo nên lại quá lớn, ông chịu không nổi. Cả ban biên tập của tạp chí BMJ cũng không chịu nổi, nếu từ chối. Cuối cùng thì vẫn phải đăng.

Sự bất công kiểu này là phản ánh của cái gọi là “Hiệu ứng Mathew”:

To those who have, shall be given; to those who have not shall be taken away even the little that they have’.

Đã thế, lại còn có những chuyện kiểu như kẻ dốt hơn lại có quyền phán xét các công trình có độ phức tạp vượt trội khả năng của mình có thể hiểu! Bất công có hình dạng nạn phê bình “nhầm” này cũng không hiếm, và vài ví dụ tiêu biểu được nêu lên trong Bacchetti (2002). (Về nạn “nhầm” này, bản thân tôi cũng chứng kiến vài lần, nhưng vì không muốn cãi cọ với người phản biện, tôi tảng lờ đi cái sai trong đánh giá của họ; và mang chút hy vọng một cách tuyệt vọng rằng ngày nào đó họ sẽ nhận ra cái sự “ra vành ra vẻ” của họ là vô lối. Cũng may sau đó việc phản biện cũng kết thúc tốt đẹp và mấy bài đều đã đăng.)

Vậy đấy, thế giới của những công trình và ấn phẩm khoa học cũng rối ren, phức tạp, và chẳng kiếm đâu ra cái gọi là sự công bằng được. Giờ thì nghĩ tới “hoàn thiện” quy trình phản biện / bình duyệt khoa học càng lúc càng thấy diệu vợi, phân vân bất quyết.

Riêng tôi thấy, dù đã quen thuộc với các cửa ải và kiểu bầm dập này nhiều năm nay, “trận đòn” nào cũng có mùi vị roi vọt riêng, và sẹo thì muôn hình muôn vẻ. Thế nên, khi đóng vai referee, tôi tự nhủ cố gắng dù là gác cửa chất lượng nhưng cũng đừng vì lý do đó mà để lại sẹo cho ai cả, bất kể vô tình hay hữu ý.

* Tham khảo:

Bacchetti, P. (2002). Peer review of statistics in medical research: the other problem. British Medical Journal, 324(7348), 1271-1273.

Smith, R. (2006). Peer review: a flawed process at the heart of science and journals. Journal of the Royal Society of Medicine, 99(4), 178-182.

Van Rooyen, S., Godlee, F., Evans, S., Black, N., & Smith, R. (1999). Effect of open peer review on quality of reviews and on reviewers’ recommendations: a randomised trial. British Medical Journal, 318(7175), 23-27.

Walsh, E., Rooney, M., Appleby, L., & Wilkinson, G. (2000). Open peer review: a randomised control trial. British Journal of Psychiatry, 176(1), 47-51.