Mối lo đạo đức đánh thức lương tri khoa học Mỹ

Posted on June 26, 2015 by

1


Op-Economica, 26-6-2015 — Không phải vô cớ mà đạo đức khoa học trở thành chủ đề quan trọng của số xuất bản thứ 6242 [DOI: 10.1126/science.aab3847] của tạp chí Science. Bài luận của 13 nhà khoa học danh tiếng Mỹ đề cập trực tiếp tới vấn nạn đạo đức khoa học và sự lan tràn của các loại khoa học dỏm, kém chất lượng.

Một đất nước có nền khoa học hùng mạnh nhất thế giới, hàng ngàn trường đại học chất lượng, những viện nghiên cứu và cơ sở công nghiệp tạo ra tri thức và sản phẩm công nghệ cả loài người phải kính phục và yên tâm sử dụng, có gì phải lo lắng như vậy?

Bài luận của 13 khoa học gia – được dịch gần như trọn vẹn dưới đây – sẽ góp phần làm sáng tỏ.

Nước Mỹ kỳ lạ. Với trình độ cao và trí tuệ dẫn đầu, họ luôn tự vấn về các nguy cơ, và luôn tìm ra những biện pháp giải quyết các vấn đề mà thực ra họ quan sát thấy ở các nơi khác, chứ không hẳn nước Mỹ (ví dụ nạn gian dối khoa học thì đặc biệt phổ biến là có nguồn gốc từ Trung Quốc).

Một thái độ đáng suy ngẫm cho các nước vừa nghèo vừa dốt, nhưng lại rất thích khoe khoang, khoác lác và vỗ ngực “đệ nhất thiên hạ”.

2015-06-26_science.self-correction* * *

Đạo đức khoa học: Sự tự hiệu chỉnh trong khoa học có tác dụng

Hàng tuần, các nguồn báo chí liên tục giới thiệu những phát hiện khoa học mới, nhưng đôi khi những kết quả khoa học thực thụ, đáng tin lại bị đánh đồng với kiểu làm khoa học đáng ngờ. Phẩm giá khoa học thường không được thể hiện qua những tiêu đề hút khách.

Thi thoảng những trường hợp gian lận hoặc kết quả kỳ dị lại được kể lể theo kiểu nền khoa học sắp đổ vỡ đến nơi. Thậm chí cả những tờ báo lớn như Economist cũng có bài (tháng 10-2013) có tựa giật gân kiểu như: “Vấn nạn ở phòng thí nghiệm: các nhà khoa học muốn tin rằng khoa học có khả năng tự hiệu chỉnh sai lầm. Nhưng đáng báo động, niềm tin đó không đúng”.

Tuy vậy, lại chính trong bài báo đó [của Economist] lại chứa đầy những bằng chứng cho thấy khoa học tự kiểm duyệt chất lượng gắt gao, chính nhờ quá trình tự kiểm duyệt ấy mà tờ báo công chúng [không phải tập san khoa học] như Economist mới biết đến những vấn đề này. Và tự giới khoa học đã xử lý những sai sót được phát hiện ra [cũng tự các nhà khoa học phát hiện ra] và giải quyết những quan ngại chất lượng khác nữa.

Trước những vấn đề tương tự, Viện Hàn Lâm Khoa Học Mỹ (NAS) đã triệu tập chúng tôi [các tác giả] nhằm tìm kiếm cách thức loại bỏ những cản trở trong việc nâng cao chuẩn mực đạo đức khoa học.

Giống như mọi hoạt động của con người, khoa học không hoàn hảo. Tuy nhiên, như Robert Merton đã chỉ ra hơn nửa thế kỷ trước: “hoạt động của khoa học gia tuân thủ quá trình kiểm soát khắt khe, tới mức độ có lẽ không có lĩnh vực nào khác của con người so sánh được”. Kết cục là, theo Popper, “khoa học là một trong số rất ít hoạt động của con người—có lẽ là hoạt động duy nhất—trong đó các sai lầm bị chỉ trích một cách có hệ thống và thường xuyên được sửa sai đúng lúc”. Những tình huống qua đó khoa học gia phát hiện thấy và sửa chữa sai lầm trong công trình tạo thành bằng chứng chắc chắn về sự thành công, chứ không nên coi là thất bại, bởi vì họ chứng minh được rằng các cơ chế tự bảo vệ [phẩm giá] có tác dụng hữu hiệu.

Tuy vậy, giống như trong bất kỳ hoạt động nào của con người, hiển nhiên khoa học không thể lúc nào cũng đạt tới mức độ đòi hỏi hoàn hảo. [Những ví dụ này không thiếu.] Những người lãnh đạo trong cộng đồng nghiên cứu chịu trách nhiệm đảm bảo rằng các hệ thống quản trị phát triển kịp với những cuộc biến đổi lớn lao trong năng lực và phương pháp nghiên cứu. Và theo cách nhất quán với nguyên lý tự hiệu chỉnh sai lầm, các nhà khoa học rất tích cực xử lý các vấn đề như việc xuất hiện những kết quả nghiên cứu khả nghi [thiếu chắc chắn] hay việc phải gỡ bỏ các bài nghiên cứu đã công bố.

Bản thân chính bài báo nói trên của Economist cũng chỉ ra rằng, các tập san khoa học PLOS OneScience Exchange đã bắt đầu thực hành sáng kiến “qua đó các nhà khoa học có thể trả tiền để công trình của họ được khẳng định lại qua một phòng thí nghiệm độc lập”; tập san Nature cũng khởi sự một danh mục tự kiểm 18-điểm dành cho các tác giả “nhằm đảm bảo mọi thông tin thống kê và kỹ thuật quan trọng nhất đối với việc kiểm tra tính đáng tin cậy của một thí nghiệm”; đồng thời tạp chí Perspectives on Psychological Science đề ra các nguyên tắc trong “cả một phần quy định riêng cho việc tái lập các thí nghiệm [để kiểm tra độ xác thực]”.

Các hội nghị có uy tín như của Hiệp hội Máy móc tính toán cũng bắt đầu yêu cầu đảm bảo tính xác thực [khả năng tái lặp thực nghiệm] đối với các bài được chấp thuận công bố. Sau sự cố Obokata, tập san Nature công bố các biện pháp tăng khả năng phát hiện những sai lầm cố ý có thể được phát hiện trong quá trình bình duyệt. Trong số các nỗ lực gồm cả các quy tắc công bố thông tin tài trợ, hướng dẫn về đáp ứng tính minh bạch và công bố dữ liệu mở. Những phát kiến mới như Cross Mark [theo dõi lưu trữ] và Retraction Watch [giúp theo dõi việc rút bỏ các bài vi phạm] cũng giúp cho các nhà khoa học dễ dàng loại bỏ những kết quả đã bị rút công bố ra khỏi những trao đổi học thuật nghiêm túc.

Khuyến khích chất lượng và sửa sai. Nosek và các đồng tác giả lập luận rằng một số kết cấu động lực chính của giới hàn lâm gây ra tác dụng ngược. Các nhà nghiên cứu được khuyến khích công bố các kết quả mới và giấu kín [trong kho] những phát hiện không thuận lợi [tức là không có bằng chứng ủng hộ]. Thưởng bằng tiền mặt ở một số nước còn làm tăng số lượng bài gửi đăng đối với các tạp chí uy tín, và trong không ít trường hợp các công trình thực tế chỉ là những thứ giả mạo. Một số lượng ngày càng tăng các sinh viên nghiên cứu được tài trợ bởi NIH xếp thêm hàng dài vào danh sách ứng viên chờ được có chỗ postdoc, khiến cho nạn suy sụp tinh thần tăng lên do thời gian chờ đợi ngày càng dài ra, và chẳng biết đến bao giờ mới có cơ hội có được khoản tài trợ đầu tiên cho công việc nghiên cứu.

Chúng tôi tin rằng những yếu tố động viên công bố kiểu cũ cần thay đổi sao cho nhà nghiên cứu được thưởng cho công bố có giá trị thay vì công bố nhiều. Với những trường hợp giảng viên trọn đời, ứng viên nhận các khoản tài trợ nghiên cứu nên được đánh giá dựa trên tầm quan trọng của một nhóm công trình tiêu biểu đã xuất bản, thay vì số lượng công trình hay là những chỉ số ảnh hưởng của tập san [kiểu Impact Factor của ISI hay SCImago Journal Rank của Scopus] như là đại diện thay thế cho chỉ số chất lượng. Cách đánh giá này đã được thực hiện cho việc bầu thành viên của Viện Hàn Lâm KH Mỹ (NAS) cũng như lựa chọn những người được vinh danh tại các hiệp hội chuyên môn.

Quá trình bình duyệt cần được thực hiện tốt hơn nữa công tác trợ giúp những tay bình duyệt trẻ, tăng cường tính mạch lạc và chất lượng của những trao đổi biên tập, và phát hiện được những tình huống trong đó một người bình duyệt bị thiên kiến dù là ủng hộ hay bác bỏ một công trình nào đó.

Mặc dù việc này có thể tạo thêm gánh nặng cho người bình duyệt, nhưng một giải pháp được eLife áp dụng, là cho phép những người bình xét chia sẻ thảo luận của họ với những người khác và cùng phối hợp trong việc đưa ra một bình xét chất lượng trước khi gửi ý kiến cuối tới tác giả, có thể dẫn tới quyết định biên tập [đăng hay không đăng một nghiên cứu]. Phương thức bình xét chéo của tập san Science, qua đó các báo cáo bình duyệt được trao đổi giữa các nhà KH tham gia thẩm định, cho phép các biên tập viên nắm bắt được những thông tin đầu vào đầy đủ hơn dựa trên các báo cáo trước khi trả lời chính thức cho tác giả bản thảo.

Nếu thực hiện được cải cách để giảm bớt hiện tượng định kiến trong quá trình thẩm định chất lượng công trình, thì bên cạnh cấu trúc khuyến khích động viên công bố chất lượng cao thay cho số lượng nhiều, chúng tôi cho rằng chuẩn mực đạo đức của khoa học sẽ tăng lên mà không gây ra sự lãng phí thời gian [cũng là tổn thất] của khoa học gia bình duyệt.

Việc lệ thuộc vào động tác duy nhất “rút lại bài đã công bố” có thể gây nên sự thoái trào thay vì phụng sự những lợi ích cao quý nhất của khoa học. Bản thân từ “retraction” [gỡ bỏ bài] với ý nghĩa tiêu cực của nó, bao trùm cả ý nghĩa gỡ bỏ bài sai vì lỗi vô ý lẫn loại bỏ bài do gian dối cố tình. Hai việc này ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Hành động rút lại một cách tự nguyện những công bố phát hiện của một nhà nghiên cứu sốt sắng sửa chữa một sai lầm vô tình gặp phải khi nghiên cứu là một hành động rất đáng được tán dương. Đối nghịch với nó là việc gỡ bỏ bài cưỡng bức của một tác giả bất lương cố tình công bố những kết luận ngụy tạo. Việc sử dụng thuật ngữ minh bạch có tính phân biệt rõ như “rút bài tự nguyện” hay “rút bài vì vi phạm” sẽ minh oan cho bài sai lầm vô tình và làm nặng với loại bài gian dối.

Theo cùng lối nghĩ này, “xung đột lợi ích” ngụ ý rằng các quan hệ phía sau một nghiên cứu công bố có tính chất tham nhũng hay thông đồng. Như vậy, sử dụng một ngôn ngữ trung tính hơn như “thông báo về các mối quan hệ cần minh bạch hóa” có thể động viên tác giả thực thi tốt hơn nghĩa vụ công bố thông tin mà không nhất thiết chịu ngụ ý rằng các mối quan hệ được bạch hóa đều là mờ ám, đen tối.

Điều tra và đào tạo. Việc điều tra các cáo buộc vi phạm đạo đức nghiên cứu rất quan trọng với quy trình đảm bảo rằng những kết luận sai lầm, do gian dối hay sai lầm phương pháp, sẽ bị phát giác và bố cáo rộng rãi. Do các tạp chí thường thiếu kinh phí cần thiết để điều tra những cáo buộc về hành vi vi phạm chuẩn mực của nghiên cứu đã công bố, thường phải trông cậy vào các tổ chức nơi các nhà nghiên cứu làm việc để giải quyết vấn nạn này. Các tổ chức đứng ra tài trợ nghiên cứu thường đóng vai trò giám sát. Trong trường hợp các tổ chức không sẵn sàng, xung đột lợi ích hoặc không có khả năng điều tra, những kết quả sai lầm sẽ vẫn tiếp tục tồn tại lơ lửng trong hệ thống tàng thư hàn lâm. Như thế sẽ cần đến một giải pháp mang tính chất kết cấu lành mạnh hơn.

Thậm chí ngay cả khi các tổ chức học thuật, nhà tài trợ và tạp chí cùng hợp tác để xử lý vi phạm và đảm bảo tính xác thực của chứng cứ nghiên cứu, họ cũng có thể bị quá tải bởi số lượng cáo buộc ngày càng tăng lên, phí tổn và mức độ phức tạp của điều tra, quá trình khó khăn trong điều tra các công trình hợp tác xuyên lĩnh vực, xuyên biên giới, và sự xuất hiện những công nghệ tinh vi hỗ trợ đắc lực cho việc ngụy tạo hay vi phạm. Cơ quan điều tra cần được tôn trọng, trung tính, linh hoạt, và có quyền được sử dụng nguồn lực chuyên gia cần thiết và có tiếng nói trọng lượng, bất kể cơ quan tài trợ là ai.

Đảm bảo tính trung thực khoa học được bảo toàn là trách nhiệm của rất nhiều bên liên quan. Năm 1993, NAS yêu cầu lập ra một Ủy ban cố vấn đạo đức khoa học độc lập để thực hành quyền lãnh đạo trong việc xử lý những vấn đề về đạo đức trong hành vi nghiên cứu khoa học. Mặc dù chưa được thực thi, nhưng nếu cơ quan đó ra đời, nó có thể phụng sự như một nguồn lực trung tính và được tôn trọng hỗ trợ và bổ sung cho hệ thống nghiên cứu và những bên có lợi ích liên quan.

Các trường đại học nên bắt buộc giảng viên và nghiên cứu viên, sinh viên, phải được đào tạo về đạo đức nghiên cứu. Các ấn phẩm khoa học không được chứa những tác giả ma hoặc tác giả hữu danh vô thực. Các văn phòng thông tin công chúng phải tránh sự phô trương khoác lác quá đà trong công bố những kết quả nghiên cứu, và bất kỳ nghiên cứu đáng khả nghi nào cần được điều tra tổng thể và ngay lập tức.

Tất cả các nhà nghiên cứu cần nhận thấy rằng chuẩn mực nghiên cứu tốt nhất được sinh ra khi, giống như Darwin, họ cần mẫn lục tìm những sai lầm trong lập luận khoa học. Trong sinh học chẳng hạn, tính khả biến cố hữu trong các hệ thống sinh học có thể tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu tìm ra những tập hợp điều kiện khác nhau nhằm thỏa mãn kết quả cụ thể họ mong muốn (và được tưởng thưởng!), cho nên yêu cầu với sự tự biện luận có tính cảnh giác cao sẽ rất lớn khi nghiên cứu những thứ có liên quan trực tiếp tới ứng dụng chữa bệnh cho con người.

Chúng tôi khuyến khích từng lĩnh vực khoa học đầu tư vào những nghiên cứu tình huống nhằm chỉ ra những sai lầm trong tập hợp các nghiên cứu đáng ngờ được lựa chọn—liệt kê những nhà khoa học xã hội và chuyên gia trong lĩnh vực tương ứng để phỏng vấn những người liên quan (và có lẽ cả kiểm tra những ghi chép của phòng thí nghiệm hoặc tái thực hiện các phân tích thống kê), với hy vọng đúc rút được những nguyên lý chung nhằm cải thiện chất lượng khoa học trong từng lĩnh vực.

Các cơ sở công nghiệp cũng nên công bố những nỗ lực thất bại khi lặp lại các kết quả nghiên cứu đã công bố [một kiểu dấu hiệu đáng ngờ] và hợp tác với các nhà khoa học trong giới hàn lâm để làm rõ tầm quan trọng của công trình khoa học. Các hiệp hội khoa học cần tiếp tục truyền thông khoa học như một phương thức đi tới nhận thức, và đào tạo các thành viên để có thể truyền đạt hiệu quả hơn những phát hiện khoa học chính tới công chúng rộng rãi. Các tạp chí cần tiếp tục yêu cầu gia tăng tiêu chuẩn cao hơn nữa đối với sự minh bạch và tính khả lặp của các kết quả.

Chúng tôi cũng nhận thấy những khuyến khích lợi ích có thể đem lại kết quả ngược với mong đợi. Tuy thế, những thứ như hình ảnh xã hội cải thiện và hình thức công nhận của công chúng có thể giúp là tăng hành vi tích cực xã hội, chúng tôi tin rằng thay thế sự sỉ nhục của ý niệm “retraction” bằng thứ ngôn ngữ tán dương hành vi tự phát hiện các sai lầm vô ý trong một công trình sẽ giúp thúc đẩy những phát hiện tương tự. Bởi lẽ duy trì uy tín lớn lao của khoa học có thể thúc đẩy hành vi hợp tác, chúng tôi dự đoán rằng những thay đổi được đề xuất sẽ không chỉ làm tăng chất lượng của sản phẩm cuối cùng mà còn lôi ra ánh sáng những hành vi làm tổn hại tới quá trình bình duyệt độc lập. Để đảm bảo rằng những động lực lợi ích không chỉ thúc đẩy các mục tiêu khoa học mà hơn tất cả không được làm hại tới chất lượng, chúng tôi thúc giục việc điều tra và đánh giá những đề xuất này thật kỹ lượng trước khi được sử dụng rộng rãi.

Liệu quá khứ có đặt ra bối cảnh dẫn đến tương lai?(*)

Nếu khoa học mang mục đích cải thiện năng lực hiểu biết của chúng ta về bản thân và về thế giới, chiến đấu để bảo vệ những chân lý khoa học mà nhọc nhằn lao động mới có được, và bảo vệ sự tôn kính mà xã hội dành cho khoa học, và bảo toàn vai trò của khoa học như động lực phát triển của nền kinh tế, thì các nhà khoa học buộc phải bảo vệ sự nghiêm khắc và độ tin cậy trước những thách thức đặt ra bởi hệ sinh thái nghiên cứu đang thay đổi rất kịch tính và đôi lúc còn theo cách khá hỗn loạn. Để làm việc này, cộng đồng nghiên cứu khoa học cần can dự vào một quá trình đối thoại dài lâu. Chúng tôi hy vọng rằng bài luận này và bản báo cáo Đạo đức Khoa học, sẽ xuất bản trong năm 2015, sẽ đóng vai trò chất xúc tác cho quá trình đối thoại như vậy.

Khi được hỏi vào lúc kết thúc sự kiện Hội nghị hiến pháp Mỹ năm 1787 rằng liệu quá trình thương thảo dẫn đến kết cục một nền cộng hòa hay một nhà nước quân chủ, Benjamin Franklin trả lời: “Một nền cộng hòa, nếu các bạn có thể duy trì được nó.”

Nếu việc duy trì một hệ thống chính quyền cần sự cống hiến dài lâu và tinh thần cảnh giác, sứ mệnh bảo vệ đạo đức khoa học cũng vậy.


Essay: Bruce Alberts, Ralph J. Cicerone, Stephen E. Fienberg, Alexander Kamb, Marcia McNutt, Robert M. Nerem, Randy Schekman, Richard Shiffrin, Victoria Stodden, Subra Suresh, Maria T. Zuber, Barbara Kline Pope, Kathleen Hall Jamieson. Scientific Integrity: Self-correction in science at work. Science 2015, 348 (6242), 1420-2.


(*) Cách viết chơi chữ theo phong cách William Shakespeare: Will past be prologue?

Advertisements