Bộ phận trí thức tinh hoa và sự phát triển của kinh tế hiện đại

Posted on July 16, 2015 by

5


Op-Economica, 16-7-2015 — Trong nhiều thập kỷ, các nhà kinh tế học đã phủ nhận sự liên quan giữa yếu tố văn hóa với hầu hết các câu hỏi về sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thập kỷ vừa qua, họ đã phải tái khám phá tầm quan trọng của yếu tố này trước sự nổi lên của quá trình tích tụ tài sản lớn (quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh và chưa từng thấy từ năm 1850). Nhìn lại, sự phát triển này dường như là tất yếu. Khi các tổ chức được chấp nhận chính là yếu tố quan trọng trong việc lý giải sự chênh lệch trong thu nhập bình quân đầu người của các Quốc gia, thì văn hóa – theo cách hiểu như tín ngưỡng và giá trị mà từ đó các tổ chức hình thành – không thể bị bỏ lại phía sau. Trong một nghiên cứu gần đây, Squicciarini và Voigtländer đã củng cố ý tưởng này bằng cách trình bày sự ảnh hưởng của yếu tố văn hóa đối với sự phát triển của nền kinh tế hiện đại.

Nhưng vấn đề quan trọng ở đây là văn hóa của ai? Có phải là văn hóa, tín ngưỡng của đại bộ phận quần chúng, và sự gia tăng của trình độ đọc viết và giáo dục đại chúng?

Câu trả lời không đơn giản. Cuộc cách mạng công nghiệp vào cuối thế kỷ XVIII và những làn sóng tăng trưởng kinh tế nối theo nó chủ yếu được tạo ra bởi những phát minh và nền khoa học–nền tảng cho những phát minh được phát triển nhanh chóng. Trong thời đại Victoria, rất nhiều các tác giả có xu hướng giải thích sự xuất hiện của Cuộc cách mạng công nghiệp là nhờ những nhà phát minh đại tài như Watt và Arkwright và những nhà khoa học tuyệt vời như Galileo hay Newton.

Trong thế kỷ XX, các học giả đã phản ứng với thái độ tôn thờ những bậc anh hùng đó bằng việc nhìn nhận nguồn gốc của những bộ óc thông minh như áp lực nội tại phi cá nhân và phủ định những cá thể đơn lẻ ở bất cứ tổ chức nào. Tolstoy nổi tiếng với lời biện hộ trong tác phẩm Chiến tranh và Hòa bình:

“Để học luật của lịch sử, chúng ta phải thay đổi hoàn toàn sự quan sát của chúng ta, phải bỏ các ông vua, các tổng thống, các chủ tịch sang một bên, và học cái chung, những yếu tố cực nhỏ mà bằng nó quần chúng đang dịch chuyển”.

Theo cách nhìn này, những cá nhân chiếm vai trò rất nhỏ; nếu Henry Bessemer không phát minh ra lò luyện kim giúp việc tạo ra thép rẻ hơn, một ai đó cũng sẽ làm điều này.

Nó đặt ra câu hỏi: Cái gì sẽ thực sự lý giải cho những ý tưởng công nghệ đột phá như động cơ hơi nước, đèn dầu, vắc-xin phòng bênh đậu mùa, bóng bán dẫn hay thuốc kháng sinh? Những cá nhân đơn lẻ có lẽ không quan trọng như những người tôn thờ họ tưởng tượng, nhưng thật khó để phủ nhận rằng, trong thế kỷ XVIII, bộ phận người đã sáng chế  ra những công nghệ mới và nền khoa học mới quả nhiên là một lát cắt rất mỏng. Sự cải biến trong công nghệ đã đẩy mức sống lên một tầm cao mới. Nó được tạo ra bởi bộ phận những người vừa được giáo dục, học tập vừa hết sức lành nghề và tháo vát–và rõ ràng rất ít người hội tụ đủ những yếu tố đó. Những nhà khoa học cũng là những nhân tài trong chế tạo công cụ, như Alessandro Volta, hay những kỹ sư đầy sáng kiến có thể có những kết nối với cộng đồng khoa học, như James Watt và John Smeaton.

Những tiến bộ đột phá được đưa vào sản xuất bởi tầng lớp thứ hai là những người tinh chỉnh và thực hiện. Tuy nhiên, đó vẫn là một bộ phận thiểu số–nhiều nhất là vài ngàn người–những người đã thách thức thứ trí tuệ thông thường và tạo ra những công cụ, máy móc mới làm nên kỷ nguyên hiện đại.

Không một ai nói điều đó rõ hơn nhà tiên ước khoa học, cũng là nhà chế tạo công cụ thông minh Robert Hooke, trong một ghi chú của ông năm 1966:

“Không thể mong muốn ở thời đại nào hay ở bất cứ đâu cũng có đầy những con người mà tài năng và lý tưởng của họ hướng lối họ đến niềm vui của hành trình tìm hiểu tự nhiên và nguồn gốc của mọi thứ, dẫn họ từ những tìm tòi này đến việc sản xuất ra cái gì đó được sử dụng cho chính họ hoặc cho toàn nhân loại. … Nhưng thế giới mới này phải được chinh phục bởi một quân đội Descartes, vô cùng nguyên tắc và kỷ luật, dù số lượng họ chỉ rất nhỏ.”

Nuôi dưỡng sáng tạo khoa học. Một trang của một cuốn Bách khoa toàn thư thế kỷ 18 đã mô tả các công cụ được sử dụng trong công nghệ đóng sách. Squicciarini và Voigtländer nói rằng số lượng những người đăng ký những công việc như thế dự đoán tốc độ tăng trưởng nền kinh tế trong tương lai. Do đó, lượng rất nhỏ các nhân tài được giáo dục tốt vẫn đang được tranh cãi xem có phải là nhân tố quyết định sáng tạo khoa học, công nghệ hay không.

Nuôi dưỡng sáng tạo khoa học. Một trang của một cuốn Bách khoa toàn thư thế kỷ 18 đã mô tả các công cụ được sử dụng trong công nghệ đóng sách. Squicciarini và Voigtländer nói rằng số lượng những người đăng ký những công việc như thế có thể dự đoán tốc độ tăng trưởng nền kinh tế trong tương lai. Do đó, lượng rất nhỏ các nhân tài được giáo dục tốt vẫn đang được tranh cãi xem có phải là nhân tố quyết định sáng tạo khoa học, công nghệ hay không.

Một sự trình bày chính thức hơn của ý tưởng này là xem xét sự phân bổ nguồn lực con người trong xã hội. Thông thường các nhà kinh tế học như Richard Easterlin đánh giá nguồn lực con người như một yếu tố tiên quyết trong sự phát triển kinh tế và đã nghiên cứu trên nhiều khía cạnh như tỷ lệ biết chữ chung hay số năm đi học trung bình.

Có rất nhiều những lý do củng cố cách tiếp cận này, nhưng số liệu lịch sử lại gợi ý rằng, chú trọng vào toàn thể lực lượng lao động sẽ hợp lý hơn so với chú trọng vào thế hệ trí thức mới nếu muốn lý giải sự thích ứng và lan tỏa của công nghệ kỹ thuật hiện tại. Điều quan trọng là những người đó nằm phía đuôi bên phải của sự phân phối xác suất: một số lượng nhỏ những người tài giỏi khác thường, những người có bộ óc sáng tạo và trí tuệ nhất và được đào tạo để đưa những công nghệ tiên tiến nhất đến với giai đoạn hoạt động.

Squicciarini và Voigtländer đã đặt ý kiến này vào một nghiên cứu đầy sáng tạo. Các tác giả giải thích rằng các cá nhân có trình độ cao đã tạo ra sự phát triển kinh tế bằng hai cách.

Thứ nhất, họ có thể đưa ra những phát kiến mới và phát triển chúng.

Thứ hai, họ liên tục củng cố những công nghệ này thông qua việc điều chỉnh và thích nghi chúng. Những cá nhân này là nhân tố chủ chốt trong quá trình phát triển kinh tế.

Squicciarini và Voigtländer đo số lượng trí thức từ một nguồn không thể ngờ: số người đăng ký làm cuốn Bách Khoa Toàn Thư (Grand Encyclopédie) công bố tại Pháp năm 1777-1778. Có khoảng 7000 trí thức Pháp đã đăng ký thực hiện công việc khác biệt và quá tiến bộ này.

Do vậy, họ được xem như một ví dụ hoàn hảo về sự “giác ngộ”.

Squicciarini và Voigtländer bảo vệ quan điểm rằng những người đăng ký đó đã thể hiện hầu hết bộ phận trí thức: Sau cùng, ngoài triết học chính trị, cuốn Bách Khoa Toàn Thư chứa đựng những thông tin và mô tả các công nghệ kỹ thuật được sử dụng lúc đó (xem ảnh).

Tiếp theo, họ nói rằng, số người đăng ký trong các thành phố của Pháp sẽ dự đoán tốc độ phát triển kinh tế tương lai tại các thành phố đó sau quá trình công nghiệp hóa cất cánh vào cuối thế kỷ XVIII nhờ sử dụng công nghệ kỹ thuật. Hơn thế, mức trung bình của nguồn lực con người, đo bằng tỷ lệ biết chữ chiếm vai trò rất nhỏ trong các giai đoạn đầu của công nghiệp hóa. Nói cách khác, con số những người biết đọc không hề quan trọng đối với sự phát triển. Thứ chính yếu là bộ phận tinh hoa: lượng những người được giáo dục tốt và có thể đọc những thứ phức tạp.

Việc đọc được những thứ như thế chính xác đã tác động đến hoạt động sáng tạo và kinh doanh thế nào chắc chắn vẫn còn là một ẩn số. Có thể lý giải rằng cả hai đều liên quan đến những đặc tính không thể quan sát được như sự tò mò, sáng tạo khoa học, sự tiếp cận với tri thức tiên tiến, và niềm đam mê với việc thúc đẩy hiệu quả kinh tế.

Phát hiện này có thể ứng dụng cho thời đại của chúng ta hay không? Nghiên cứu hiện đại gợi ý rằng lợi ích của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế nằm trong tầm nhìn rất xa. Tổng nguồn lực con người chưa phải là thống kê đầy đủ để lý giải tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thêm vào đó, chúng ta cần biết các thành tố của nguồn lực đó (bộ phận giáo dục chất lượng cao so với giáo dục phổ cập rộng rãi) và nền kinh tế đã chạm gần đến đâu với mức giới hạn hay biên giới của công nghệ kỹ thuật thế giới.

Đối với những nền kinh tế đang ở biên giới của công nghệ kỹ thuật, việc đầu tư giáo dục những người giỏi nhất có lẽ quan trong ngang ngửa với việc nâng cao mức trung bình của phân bố tổng thể. Với phần còn lại của thế giới–những nền kinh tế bắt chước và thích nghi nhiều hơn là sáng tạo–thì đầu tư vào giáo dục đại chúng lại là chiến lược tốt nhất cho sự phát triển kinh tế.

Nguồn: Science 10 July 2015: Vol. 349 no. 6244 pp. 141-142; DOI: 10.1126/science.aac6520