Dự trữ ngoại hối (foreign exchange reserves)

Posted on August 29, 2015 by

0


Op-Economica, 29-8-2105 — Trong Cẩm nang Cán cân Thanh toán Quốc tế, IMF định nghĩa Dự trữ ngoại hối là toàn bộ tài sản bằng ngoại hối sẵn sàng sử dụng để can thiệp, thể hiện trên bảng cân đối tiền tệ của Ngân hàng Trung ương (NHTW).

Hầu hết các quốc gia duy trì và quản lý dự trữ ngoại hối nhằm phục vụ các mục tiêu cơ bản sau:

– Thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá.

– Duy trì tính thanh khoản của thị trường ngoại hối để hạn chế tác động tiêu cực trong trường hợp xảy ra khủng hoảng tài chính.

– Là tài sản dự trữ để duy trì lòng tin về khả năng đảm bảo thanh toán nghĩa vụ nợ nước ngoài của nền kinh tế, khả năng hỗ trợ giá trị của đồng nội tệ, thể hiện khả năng đảm bảo tài chính của quốc gia góp phần thu hút đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp nước ngoài.

– Dự trữ cho các trường hợp khẩn cấp và thảm họa mang tính quốc gia.

Trong các mục tiêu trên, ưu tiên hàng đầu của dự trữ ngoại hối dành cho việc thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá, hạn chế tác động khủng hoảng tiền tệ (nếu có). Tại những nước áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý, dự trữ ngoại hối được sử dụng để hạn chế sự biến động của tỷ giá. Do vậy, công tác quản lý dự trữ ngoại hối thường được giao cho NHTW là cơ quan hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia thực hiện.

reservesQua thống kê tình hình quản lý dự trữ ngoại hối của 82 quốc gia và vùng lãnh thổ (SBV: 2007), cho thấy có tới 78 nước, chiếm 95% các nước giao NHTW trực tiếp quản lý dự trữ ngoại hối, chỉ một vài quốc gia là có sự tham gia quản lý dự trữ ngoại hối của Bộ Tài chính hay Quỹ đầu tư như Canada, Anh, Nhật. Tuy nhiên, ở các nước này, NHTW vẫn là cơ quan trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ quản lý dữ trữ ngoại hối.

Theo báo cáo IMF (2007) về cơ quan quản lý và sở hữu dự trữ ngoại hối, có bốn hình thức quản lý:

(1) NHTW sở hữu và quản lý;

(2) Chính phủ sở hữu và quản lý;

(3) Chính phủ sở hữu nhưng NHTW quản lý tài sản có;

(4) Chính phủ và NHTW đồng sở hữu dự trữ, nhưng NHTW quản lý tài sản có.

Trong đó, đa phần ở các nước, NHTW hoặc các cơ quan tiền tệ là người sở hữu dự trữ ngoại hối và quản lý dự trữ dưới dạng một phần tài sản trong bảng cân đối. Chỉ có hai nước (Nhật Bản và Mỹ), dự trữ ngoại hối do chính phủ sở hữu và quản lý.

Với hình thức dự trữ ngoại hối do chính phủ sở hữu nhưng NHTW quản lý, có 3 nước (Canada, Hong Kong và Anh), dự trữ do chính phủ sở hữu và do đại lý quản lý. Ở Canada, dự trữ do chính phủ sở hữu nhưng NHTW Canada và Bộ Tài chính đồng quản lý; Anh: Bộ Tài chính sở hữu dự trữ, NHTW Anh quản lý theo các hạn mức của Bộ Tài chính. Hồng Kông: Cơ quan tiền tệ Hồng Kông quản lý dự trữ nhưng do chính phủ sở hữu.

Với hình thức dự trữ ngoại hối do chính phủ/NHTW đồng sở hữu và NHTW quản lý như Hàn Quốc, Estonia, Barbados, Bahrain.

• Tại Hàn Quốc, NHTW cùng với Bộ Tài chính và Kinh tế nắm giữ dự trữ ngoại hối, NHTW quản lý tất cả dự trữ trước khi Công ty Đầu tư Hàn Quốc thành lập năm 2005.

• Tại Estonia, NHTW điều hành quản lý dự trữ ngoại hối do NHTW sở hữu, trong khi đó, NHTW cung cấp dịch vụ quản lý đối với phần dự trữ do Bộ Tài chính sở hữu.

• Tại Barbados, Bahrain: NHTW và chính phủ cùng sở hữu và quản lý dự trữ ngoại hối.

Theo cả 4 hình thức này, NHTW là cơ quan quản lý trực tiếp việc sử dụng dự trữ ngoại hối để can thiệp ngoại hối trên thị trường ngoại hối trong nước và đầu tư dự trữ ngoại hối trên thị trường quốc tế trừ trường hợp của Mỹ và Nhật. Tại Nhật, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm về chính sách tỷ giá và quản lý dự trữ ngoại hối. Tuy nhiên, can thiệp ngoại hối do NHTW Nhật thực hiện thay mặt cho Bộ Tài chính. Tại Mỹ, Bộ Tài chính quản lý Quỹ bình ổn hối đoái nhưng hoạt động can thiệp ngoại hối được thực hiện thông qua Ngân hàng Dự trữ liên bang New York.

Quy mô dự trữ ngoại hối
Dự trữ ngoại hối có vai trò quan trọng trong việc can thiệp thị trường ngoại hối nhằm thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá. Việc duy trì một mức dự trữ ngoại hối vừa đủ là cần thiết nhằm bảo vệ giá trị đồng nội tệ, hạn chế sự biến động quá mức của tỷ giá hối đoái, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế, chống đỡ khủng hoảng kinh tế và tài chính. Điều này là phù hợp đối với mọi nền kinh tế, nhưng sẽ đặc biệt quan trọng hơn đối với các nền kinh tế đang phát triển bắt đầu thực hiện mở cửa, tự do hoá các giao dịch vốn quốc tế.

Tuy nhiên, nếu dự trữ ngoại hối quá lớn sẽ làm phát sinh chi phí cho việc nắm giữ dự trữ ngoại hối do lợi nhuận thu được từ đầu tư dự trữ ngoại hối thường thấp hơn chi phí đi vay vốn nước ngoài. Do vậy, các quốc gia hiện nay đều quan tâm đến việc xác định mức dự trữ ngoại hối vừa đủ, phù hợp với quy mô của nền kinh tế, tình hình tự do hoá cán cân vãng lai và cán cân vốn nhằm đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế, bảo vệ giá trị đồng tiền, cân bằng giữa lợi ích điều hành chính sách tiền tệ và chi phí của việc nắm giữ dự trữ ngoại hối. Thông thường, mức dự trữ ngoại hối vừa đủ được xác định theo nguyên tắc: mức dự trữ ngoại hối của một nước cần tương đương từ 3 đến 6 tháng nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của nước đó.

Với các nước tự do hoá tài khoản vốn hay có chế độ tỷ giá linh hoạt có sự kiểm soát của Nhà nước như Việt Nam, nếu chỉ sử dụng nguyên tắc so sánh mức dự trữ ngoại hối với 3 đến 6 tháng nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ sẽ không thích hợp vì các nước này phải đối mặt với rủi ro đảo chiều một cách đột ngột của các luồng vốn ngắn hạn như luồng vốn đầu tư gián tiếp (Nguyễn Thị Nhung, Tạp chí Ngân hàng: 12/2007). Thông thường, các nước này cần có một lượng dự trữ ngoại hối lớn hơn để sẵn sàng can thiệp khi xảy ra hiện tượng rút vốn và chuyển tiền ồ ạt ra nước ngoài.

Với các nước có mức độ đô la hoá cao, chỉ số lượng tiền rộng (M2) và số ngoại tệ gửi tại hệ thống ngân hàng so với dự trữ ngoại hối cũng được xem xét đến nhằm đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu ngoại hối của NHTW khi có hiện tượng rút ngoại tệ ồ ạt của người cư trú và khả năng can thiệp để bình ổn tỷ giá.

Với các nước có mức dự trữ ngoại hối vượt mức dự trữ ngoại hối vừa đủ và đã tương đối tự do hoá tỷ giá, để nâng cao hiệu quả quản lý dự trữ ngoại hối theo hướng đa dạng hoá loại hình đầu tư và ưu tiên mục tiêu sinh lời, có thể trích một phần dự trữ ngoại hối giao cho công ty hoặc quỹ đầu tư để đầu tư sinh lợi một cách thuần tuý (không sử dụng để can thiệp) như Hàn Quốc, Trung Quốc. Tuy nhiên, với các nước này, phần lớn dự trữ ngoại hối vẫn do NHTW trực tiếp đầu tư, quản lý để đảm bảo khả năng can thiệp khi cần thiết.

Cụ thể với NHTW Hàn Quốc, công tác quản lý dự trữ ngoại hối được coi là một trong những hoạt động quan trọng nhất của NHTW. NHTW cần duy trì dự trữ ngoại hối ở mức ít nhất đảm bảo đủ để can thiệp duy trì sự ổn định không gây ra những biến động lớn trên thị trường ngoại hối cũng như toàn bộ thị trường tài chính và nền kinh tế, có thể chống đỡ các cú sốc từ bên ngoài và duy trì sức mạnh kinh tế của quốc gia.

Với Trung Quốc, quy mô dự trữ ngoại hối đã vượt xa các chỉ tiêu theo thông lệ quốc tế và hiện đang đứng đầu thế giới về quy mô dự trữ ngoại hối. Nguồn bổ sung dự trữ ngoại hối là từ thặng dư cán cân vãng lai nên có tính ổn định hơn đối với các nước bổ sung dự trữ ngoại hối từ thặng dư của cán cân vốn. Mọi biến động trong cơ cấu dự trữ cũng như quy mô dự trữ ngoại hối đều được NHTW các nước quan tâm. Gần đây, để nâng cao hiệu quả đầu tư dự trữ, Trung Quốc dự định phát hành trái phiếu để tách khoảng 200 – 300 tỷ USD cho Công ty Đầu tư Nhà nước (CIC) để đầu tư thuần tuý.

Với Việt Nam, theo các qui định hiện hành, cơ quan quản lý dự trữ ngoại hối là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế. Cụ thể:

– Theo qui định tại khoản 2, Điều 38 Luật NHNN: “NHNN quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước (dự trữ ngoại hối NN) của nước CHXHCN Việt Nam theo quy định của Chính phủ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế, bảo toàn dự trữ ngoại hối nhà nước.”

– Theo khoản 1, Điều 34 Pháp lệnh Ngoại hối: “NHNN Việt Nam quản lý dự trữ ngoại hối NN theo quy định của Chính phủ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế và bảo toàn dự trữ ngoại hối nhà nước.”

– Theo Điều 1, Nghị định số 86/1999/NĐ-CP: “NHNN là cơ quan quản lý dự trữ ngoại hối NN nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế, bảo toàn dự trữ ngoại hối nhà nước.”

– Theo điểm 1.6, mục 1, chương II, Thông tư số 35/2006/TT-BTC về chế độ tài chính của NHNN: “NHNN quản lý chặt chẽ quỹ dự trữ ngoại hối NN theo quy định của pháp luật, sử dụng cho mục tiêu thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế. Định kỳ hàng quý, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính tình hình sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước.”

Để đánh giá qui mô dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện đang ở mức độ nào và liệu Việt Nam đã đến lúc cần xem xét tách một phần dự trữ để đầu tư sinh lời thuần tuý như một số nước trong khu vực hay chưa, chúng ta cần xem xét đến mức độ mở cửa của nền kinh tế và tính toán một số chỉ tiêu về dự trữ ngoại hối.

Theo Pháp lệnh Ngoại hối được ban hành ngày 13/12/2005, cán cân vãng lai của Việt Nam đã hoàn toàn được tự do hoá. Ngoài ra, theo quy định tại Pháp lệnh Ngoại hối và Nghị định 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006, các giao dịch vốn từng bước được tự do hoá. Cụ thể:

– Với vay vốn nước ngoài, chỉ các khoản vay trung, dài hạn của tổ chức mới phải đăng ký tại NHNN và mở rộng vay vốn nước ngoài đối với cá nhân là người cư trú. NHNN quản lý thông qua tổng hạn mức vay vốn nước ngoài của các tổ chức kinh tế và cá nhân và hoạt động đăng ký khoản vay nước ngoài tại NHNN.

– Với hoạt động cho vay ra nước ngoài, Pháp lệnh cho phép người cư trú là Tổ chức kinh tế thực hiện khi được phép của Thủ tướng Chính phủ; Tổ chức kinh tế thực hiện theo quy định của NHNN, các khoản cho vay của Chính phủ hay các tổ chức được Nhà nước, Chính phủ uỷ quyền thực hiện theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

– Với đầu tư gián tiếp, cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán theo một tỷ lệ nhất định và được nới lỏng theo thời gian. NHNN chỉ giám sát thông qua tài khoản vốn đầu tư gián tiếp bằng đồng Việt Nam.

– Với đầu tư trực tiếp, các hạn chế về việc chuyển đổi ngoại tệ đã được xoá bỏ, NHNN chỉ giám sát thông qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ trong đó quy định các nội dung thu, chi của tài khoản này.

– Với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, người cư trú được phép sử dụng ngoại tệ sẵn có của mình hay đi mua hoặc đi vay để đầu tư sau khi được phép của cơ quan có thẩm quyền về việc đầu tư ra nước ngoài.

Do các giao dịch vốn đã tương đối được tự do hoá nên NHTW cần phải mua ngoại tệ cho dự trữ ngoại hối khi các luồng vốn đổ vào Việt Nam để duy trì sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu và phải bán ra khi đến hạn trả nợ hay có hiện tượng đảo chiều của các luồng vốn ngắn hạn của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán.

Bên cạnh đó, với mức độ đô la hoá tương đối cao của Việt Nam, dự trữ ngoại hối cũng phải gia tăng để đảm bảo can thiệp khi có hiện tượng rút ngoại tệ ồ ạt tại các ngân hàng thương mại. Hiện tượng đô la hoá (theo số tương đối) hiện nay có xu hướng giảm do hoạt động đầu tư vào thị trường chứng khoán gia tăng mạnh mẽ. Cụ thể, chỉ số tiền gửi ngoại tệ/M2 của Việt Nam hiện đang ở mức 22,3% vào cuối năm 2005, 20,9% cuối năm 2006 và ở mức khoảng 19,5% vào cuối tháng 6 năm 2007. Tuy nhiên, do M2 tăng nhanh nên tiền gửi ngoại tệ theo số tuyệt đối vẫn tăng trong thời gian qua.

Việc hội nhập kinh tế toàn cầu đi đôi với chính sách tự do hoá vãng lai, từng bước nới lỏng giao dịch vốn, một mặt, đem lại những thuận lợi như thúc đẩy hoạt động đầu tư trong nước, nâng cao mức tăng trưởng kinh tế, cải thiện mức sống của người dân, mặt khác, cũng chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn. Hiện nay, cán cân thương mại thường xuyên thâm hụt, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đặc biệt là đầu tư gián tiếp chưa thực sự bền vững nên thị trường ngoại hối cũng tạo nên sự bất ổn định về cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Thực tế cho thấy, nhiều nước tự do hoá tài khoản vốn quá nhanh đã phải đối mặt với khủng hoảng tài chính nặng nề khi có hiện tượng chuyển vốn đột ngột ra nước ngoài với khối lượng lớn của các nhà đầu tư nước ngoài.

Với các nước tự do hoá tài khoản vốn, thường thì NHTW phải can thiệp mua ngoại tệ tăng dự trữ đi đôi với việc thực hiện các nghiệp vụ của thị trường mở để hút bớt lượng tiền đã bơm vào lưu thông để vừa duy trì khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu và kiềm chế nguy cơ lạm phát khi luồng vốn đổ vào với khối lượng lớn. Bên cạnh đó, NHTW cũng phải sẵn sàng bán ngoại tệ ra để can thiệp khi có sự rút vốn ồ ạt của các nhà đầu tư để ổn định thị trường ngoại hối. Để làm được điều này, NHTW các nước phải dự trữ một lượng ngoại tệ không nhỏ ngoài mức đủ để đáp ứng các nhu cầu nhập khẩu theo thông lệ quốc tế.