5 niềm tin tự thân có ảnh hưởng lớn nhất đến suy nghĩ và hành vi

Posted on September 17, 2015 by

2


Op-Economica, 16-9-2015 — Được rút ra từ nghiên cứu của Dr Bobby Hoffman (the University of Central Florida), tác giả cuốn Motivation for Learning and Performance (Academic Press).

Hầu hết con người không có mấy ý niệm về điều gì gây ra hành vi hàng ngày của họ, điều này có bằng chứng khoa học để kết luận. Thường hay được gọi bằng cái tên động cơ (motive), lực đẩy này rất quan trọng trong việc hướng dẫn và chỉ đạo hành vi của chúng ta dựa trên hàng loạt những niềm tin ngầm định về bản thân. Khi gộp lại, những niềm tin tự thân này xác định hướng và cường độ của hành động bị thúc đẩy. Niềm tin quyết định điều ta làm, cách ta làm và cách ta đánh giá kết quả trong tương quan với phần còn lại của thế giới.

Niềm tin tự thân quyền năng tới mức những đánh giá đó ảnh hưởng rất mạnh lên nghề nghiệp theo đuổi, các mối quan hệ tìm kiếm và cuối cùng là những gì ta hoàn thành hay không thể hoàn thành trong đời.

Trớ trêu thay, nếu hỏi rằng bạn sẽ gọi tên niềm tin tự thân nào ảnh hưởng mạnh nhất, nhiều khả năng bạn không biết phải bắt đầu từ đâu. Niềm tin là thứ ẩn, điều này có nghĩa là nhiều lý thuyết cá nhân chúng ta đã biết vận hành một cách tự động và ở mức tiềm thức.

Motivation-for-Learning-and-PerformanceNiềm tin tự thân không phải là quan niệm thế tục, chính trị hay tôn giáo. Chúng cũng không bao gồm những thứ như bạn thích nấu món trứng kiểu gì hay liệu bạn có nghĩ rằng đọc sách là chiến lược hiệu quả để thu nạp kiến thức hay là xem video cho tiện. Thay vào đó, niềm tin tự thân là những nguyên tắc dẫn đường và những đánh giá về năng lực cá nhân và những kết cục ta mong đợi sau những gì cố gắng. Khi đưa những niềm tin dạng này lên phía trước của nhận thức, con người có khả năng hành động để khai thác sức mạnh và ảnh hưởng của niềm tin.

Bây giờ câu hỏi là: Thế những niềm tin bí hiểm ấy là gì?

1. Kiểm soát

Niềm tin tự thân mạnh nhất là đánh giá của chúng ta về mức độ tự chủ về số phận của mình. Những người hướng sự tập trung ra bên ngoài thường cảm thấy số phận họ không do họ kiểm soát. Sự suy giảm niềm tin kiểm soát dẫn tới việc gán các sự kiện cuộc đời cũng như kết cục cho số phận, may mắn hoặc hoàn cảnh mà cá nhân không thể hoặc sẽ không muốn tác động, giống như những gì xảy ra khi một người tin rằng anh ta bị cột chặt vào một công việc tẻ ngắt là do điều kiện thị trường lao động không thuận lợi. Những người ở trong xu hướng này sẽ không tìm kiếm thách thức, thường tránh đặt ra các mục tiêu, và chấp nhận hiện trạng. Ngược lại, những người có niềm tin kiểm soát mạnh cảm thấy có thể nắm bắt thế giới trong nhận thức. Họ tin có thể điều khiển công việc, các mối quan hệ xã hội và lối sống. Việc tập trung vào bên trong có tác dụng như xúc tác thúc đẩy phát triển cá nhân vì người đó chấp nhận trách nhiệm và tự chịu trách nhiệm với thành công hay thất bại của mình.

2. Năng lực

Niềm tin về năng lực cũng có tác dụng lớn trong việc thúc đẩy hành vi. Nó bao gồm các đánh giá tự thân về năng lực có thể đạt được kết quả mong muốn, nhưng cũng phản ánh ở mức vi mô những đánh giá về kỹ năng hay khả năng cần để hoàn thành một việc cụ thể, chẳng hạn viết một bài báo hoặc cài một chương trình máy tính.

Nguồn thông tin để đánh giá năng lực đa dạng; có thể là kết quả đạt được trong quá khứ, lại cũng có thể dựa trên những thách thức hiện tại hoặc những tính toán về khả năng đạt được kết cục mong đợi. Cá nhân thường có xu hướng đánh giá năng lực không hoàn toàn dựa trên năng lực thực tế hay kiến thức hiện hữu mà dựa trên niềm tin về năng lực giả định, bao gồm cả những đánh giá của người khác về mình. (Ví dụ, được tán dương nhiều quá, cho dù là phi lý, cũng ảnh hưởng tới niềm tin tự thân về năng của mình, bất kể đúng sai.)

Đánh giá về năng lực có thể tác động lên nhận thức về giá trị tự thân và trở thành nhân tố quyết định xem liệu một người có dấn thân vào một nhiệm vụ, hay trì hoãn, rút lui thậm chí hoàn toàn từ chối một thách thức. Việc tránh không làm một nhiệm vụ bị thúc bách bởi nỗi sợ thất bại dựa trên những đánh giá bất lợi từ những người khác, hoặc vì triển vọng mờ mịt bởi những cảm xúc tiêu cực như ngờ vực, tội lỗi hoặc bị nhục nhã đi kèm mỗi thất bại.

3. Giá trị

Niềm tin tự thân tiếp theo là mức độ giá trị mà ta gán cho các kết cục nhiệm vụ khác nhau. Mức độ này dao động theo các chuẩn mực văn hóa và cá nhân, cũng như mức độ tiến triển của đạo đức, xã hội và nhận thức. Khi gán một mức giá trị thấp cho một nhiệm vụ hay mục tiêu tiềm năng, cá nhân thường sẽ miễn cưỡng đầu tư công sức.

Nếu giá trị là tiền, thì khả năng là người có niềm tin mạnh vào nó sẽ bất chấp các quy tắc và sẵn sàng vi phạm luật lệ. Nếu giá trị theo đuổi là sự tự hoàn thiện, thì người tin vào giá trị này có thể hy sinh thời gian, công sức, cũng như chấp nhận những nhiệm vụ khó khăn mà không tính đến lợi ích kinh tế kết quả công việc mang lại.

4. Định hướng mục tiêu

Niềm tin này đại diện cho mục tiêu học tập hoặc lý do đặt ra mục tiêu cụ thể. Khi việc theo đuổi mục tiêu dựa trên niềm tin về vẻ bề ngoài, cá nhân sẽ tập trung vào trang điểm bản thân, làm nó đẹp hơn trong mắt thiên hạ hoặc tránh sự bẽ mặt một khi thất bại. Tiếp cận này sử dụng động cơ so sánh xã hội vì cá nhân không mấy quan tâm về kết quả mà quan tâm chủ yếu tới những đánh giá của người khác.

Ngược lại, những cá nhân chú trọng tới năng lực tinh thông nghề nghiệp và làm chủ tình huống lại quan tâm tới tích lũy tri thức, không quan tâm tới ý đồ “trang điểm” vẻ bề ngoài. Những người này có xu hướng sẵn sàng tìm kiếm sự trợ giúp của đồng nghiệp (không coi mình là kẻ vạn năng), và có năng lực giám sát tiến triển công việc. Họ sẵn sàng thử nghiệm những phương án hay chiến lược mới lạ để đạt kết quả. Tính sẵn sàng này hơn hẳn những người có tính vị kỷ, chỉ chú trọng cái tôi.

5. Nhận thức luận

Con người còn có niềm tin tự thân về bản chất của sự lĩnh hội tri thức và trí khôn nói chung. Dù có nhiều quan điểm được khác biệt liên quan tới ý niệm “nhận thức luận” người ta thường nằm trong 3 phạm trù của phương cách lĩnh hội và thúc đẩy tri thức:

  • Kiến thức là ấn định, nghĩa là có một và chỉ một cách tiếp cận với một vấn đề hoặc cơ hội. Theo cách triết lý tuyệt đối hóa này thường gắn với giáo điều, ví dụ tin rằng những công việc ngon nhất chỉ có thể là kết cục của những mối quan hệ thân hữu xã hội và phát triển kỹ năng chẳng có tác dụng gì.
  • Tiếp cận linh hoạt hơn và tin rằng các ý kiến khác biệt có thể có lý; những người thuộc phạm trù này sẵn sàng lắng nghe và cân nhắc những quan điểm khác biệt.
  • Đánh giá rằng các quan điểm về nhận thức tương đương nhau về cơ hội giá trị, nhưng tin rằng một trong số đó có cơ sở nhất, dựa trên cân nhắc về tính nhân văn, đạo đức hay luật lệ.

Liên quan gần gũi với niềm tin nhận thức luận là quan niệm về trí khôn. Quan niệm về trí khôn rất khác biệt. Một cực cho rằng trí khôn có thể thu nạp nhờ sự lĩnh hội tri thức. Ở cực kia, trí khôn là thứ thực tế có sẵn phải chấp nhận. Quan niệm này rất ảnh hưởng tới khả năng chấp nhận giáo dục, thay đổi hay thuyết phục của một cá nhân.

Con số 5 nói trên rõ ràng không phải là đầy đủ, nhưng là những niềm tin tự thân có ảnh hưởng bao trùm nhất và phổ biến.

Advertisements