Nghĩ từ 6 quả hồng của Mục Khê Pháp Thường

Posted on September 27, 2015 by

0


Op-Economica, 27-9-2015 — 6 quả hồng này tại sao lại khiến Bùi Quang Khiêm mê mẩn? Chắc các nhà phân tích phải có ý kiến. Dĩ nhiên không thể không.

Đó là 6 quả hồng của Thiền tăng Mục Khê – pháp danh là Pháp Thường (牧溪法常 – phiên âm: Muqi Fachang). Được vẽ ở thế kỷ 13.

6 quả hồng của Thiền tăng Mục Khê Pháp Thường (牧溪法常)

6 quả hồng của Thiền tăng Mục Khê Pháp Thường (牧溪法常)

Ông họ Lý, tên hiệu là Mục Khê, quê quán đất Tứ Xuyên. Người ta cho rằng ông sinh năm 1210 và mất khoảng năm 1269. Sau xuất gia lấy pháp hiệu là Pháp Thường.

Ngoài giới tăng lữ, lịch sử còn biết đến ông với tư cách một họa sĩ. Các tác phẩm hội họa của ông không được người Trung Quốc đương thời coi trọng, tuy nhiên lại được giới hội họa Nhật Bản vô cùng kính trọng. Trong lịch sử hội họa Trung Quốc, ông được coi là họa sĩ có ảnh hưởng lớn nhất đến giới hội họa Nhật Bản.

Vào thời vua Lý Tông và Độ Tông (1225-1270) cuối nhà Tống, ông chuyên làm những công việc tạp dịch ở Trường Khánh Tự, Tây Hồ (西湖), Hàng Châu. Ông có tính tình hào sảng, thích uống rượu, uống say thì lăn ra ngủ, tỉnh rồi lại ngâm nga. Ông có sở trường về vẽ tượng Phật, con người, hoa quả, chim thú, sông núi, rồng cọp, vượn hạc, v.v..

Ngô Đại Tố đời Nguyên, trong “Tùng trai mai phổ” có nhận định về Mục Khê như sau: Ông thường dùng ngọn cỏ hay bã mía làm thành bút vẽ, lại tùy ý điểm mực, đưa bút mà nên tranh nên họa. Tranh ông mang ý vị giản dị tự nhiên, không hề gia công đẽo gọt chỉnh sửa.

Về bức tranh “Lục thị đồ” (sáu quả hồng), có thể thấy các quả hồng được sắp đặt ngẫu nhiên. Mỗi quả lại có sự vận dụng linh hoạt khác nhau về nét bút đậm nhạt, sáng tối, hư thực. Bức họa phản ánh ngụ ý “tùy xứ giai chân” (“tùy xứ tác chủ, lập xứ giai chân” – một giáo lý và cũng là một cảnh giới của Phật pháp. Các nét cuống và lá quả hồng của bức tranh dù giản dị, khiến người ta liên hệ tới cách đặt bút và tạo nét của lối chữ viết Trung Hoa. Quả rỗng còn tạo ra cảm giác về sự nhẹ nhàng, và dường như nổi lên trên (vì nhẹ?). Riêng về nền của giấy vẽ tranh là cả một điều cần khám phá. Nền giấy với những đường vằn, nổi gồ ghề được tạo nên hết sức công phu. Chúng là một phần của bối cảnh cho các “nhân vật” chính.

Còn nhiều điều có thể suy nghĩ xung quanh Lục thị đồ. Tại sao 6? Tại sao đặc và rỗng? Tại sao ngang bằng trên dưới.

Nghĩ kỹ ra đều thấy rất lý thú, và thấy rõ hơn tại sao người Nhật lại say mê Mục Khê Pháp Thường tới vậy.

Nên xem thật kỹ video clip sau đây của giáo sư James Cahill (University of California Berkeley; 32 phút):

***

muqi_bird***

Tại Nhật Bản, được biết đến nhiều nhất và ca ngợi nhất là “Tiêu Tương bát cảnh đồ” (tám bức họa về phong cảnh Tiêu Tương). Địa danh Tiêu Tương bao gồm cả một dải Hồ Động Đình kéo dài đến vùng Linh Lăng – Hồ Nam, nơi nước sông Tiêu và sông Tương giao nhau. Vùng này có thủy vực rộng lớn, gồm nhiều hồ lớn nhỏ, lượng nước dồi dào. Cảnh đẹp tự nhiên vô cùng thích hợp với thể loại trong thủy mặc. Tranh “bát cảnh” của Mục Khê đã lột tả được vẻ đẹp của hồ Động Đình cũng như tám nét đẹp khác nhau của khu vực xung quanh. “Tiêu Tương bát cảnh đồ” vốn là một chỉnh thể, xoay quanh một chủ đề. Tuy nhiên, trải qua hàng trăm năm lịch sử, 4 trong số 8 bức họa đã bị thất lạc. Nay chỉ còn lưu giữ lại được 4, và đều được người Nhật Bản nâng niu quý trọng.

muqi_birds

Yên tự vãn chung đồ (tranh chuông chiều chùa xa), ngư thôn tịch dương đồ (tranh hoàng hôn làng chài), viễn phố quy phàm đồ (tranh thuyền về bến xa), bình sa lạc nhạn đồ (nhạn sà cát trắng): Bốn bức tranh này đều được đánh giá là quốc bảo, hiện đang được lưu giữ tại các viện bảo tàng nghệ thuật của Tokyo.

muqi_flower


©2015 Hang Chẫu; bài viết có sự đóng góp thông tin lớn của Đặng Quỳnh Trang (Chương trình Thạc sỹ Quản trị National Dong Hwa University, Hualian, Đài Loan)

Posted in: Nghệ thuật