Tư duy bụng

Posted on January 9, 2016 by

0


Op-Economica, 9-1-2015 — Tiếng Việt phong phú. Qua cách sử dụng ngôn ngữ có thể thấy sự gắn bó tư duy với dạ dày lý thú.

Nghĩ là động từ, nhưng từ khiến cảm thấy nhẹ nhàng hơn, riêng tư hơn là “nghĩ bụng”.

Làm việc kiếm sống, kinh doanh, được gọi là “làm ăn”.

Quyết liệt tới cùng trong theo đuổi mục tiêu thì gọi là: “ăn thua”. Nhưng “không ăn thua” lại mang nghĩa không có kết quả.

Việc làm có giá trị thì gọi là: “ăn tiền”.

Hành động trí trá gọi là: “ăn gian”.

Đòi hỏi vô lối hay bắt đền không chính đáng: “ăn vạ”.

Cẩu thả bừa bãi, tạm bợ qua ngày là: “ăn xổi ở thì”.

Cũng lại có “ăn nhờ ở đậu” nói việc phải nhờ vả.

Gắn bó lâu dài: “ăn đời ở kiếp”.

Tả kẻ ra vẻ dáng dấp quyền uy: “ăn to nói lớn”. Một khía cạnh khác cũng liên quan mật thiết tới ăn và bụng nói kẻ phàm phu tục tử, lỗ mãng: “chém to kho mặn”.

Kẻ hưởng thụ thì “ăn trắng mặc trơn”. Nặng hơn thì: “ăn trên ngồi trốc” chỉ kẻ chỉ biết bóc lột kẻ khác.

Đôi co, phản ứng qua lại cũng nói: “ăn miếng trả miếng”. Liên quan gần cũng có dính dáng đến “ăn” cùng nghĩa này có động từ: “trả đũa”.

Người đứng đắn tư cách, vốn là giá trị văn hóa được gọi là: “lòng ngay dạ thẳng”.

Gọi kẻ có cách xử thế tử tế là: “có tấm lòng”. Tính tử tế cũng là: “lòng tốt”.

Niềm tin cũng gọi là: “lòng tin”.

Tình yêu cũng lòng: “lòng mẹ, lòng cha”.

Cảm giác được che chở, thông cảm, bớt cô đơn và được bảo vệ là: “ấm lòng”.

Có tâm tư thì gọi là: “nỗi lòng”.

Tương tự, thấy đau đớn xót xa thì có “nhói lòng” hoặc cũng phổ biến không kém là: “xót xa trong lòng”.

Nói về tính trung thành, chung thủy: “một lòng”. Ngược lại thì là: “hai lòng”.

Buồn cũng gọi là “buồn lòng”.

Gần đây còn có thứ lạm dụng, có lẽ cũng sắp thành từ phổ biến: “đắng lòng”.

Khi thấy bị đối xử bất công thì than: “sao nỡ lòng nào…”

Nhưng cả cụm “có lòng nào” thì mang nghĩa “có ý xấu, không trung thực”, ví dụ:

Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

Kẻ tiểu nhân có “lòng dạ hẹp hòi”.

Cảm xúc cũng có “lòng xôn xao” “lòng xốn xang” “trong bụng căm tức” “hận lòng”, v.v..

“Lòng tự trọng” nghe gần gũi hơn “tính tự trọng”.

Nhớ kỹ gọi là “thuộc lòng”, biết kỹ gọi là “nằm lòng”.

Gọi kẻ dũng cảm là “gan dạ”.

Giữ kín được gọi là: “sống để dạ, chết mang theo”.

Kẻ độc ác gọi là: “lòng lang dạ sói”.

Suy tư ngẫm nghĩ gọi là: “bụng bảo dạ”.

Kẻ giàu kiến thức từng được gọi là: “bụng một bồ chữ”.

Kẻ hẹp hòi, cố chấp, thù dai gọi là: “hay để bụng”. Người khoáng đạt, dễ tha thứ, bỏ qua xích mích là: “không để bụng”.

Kẻ nham hiểm cũng liên quan tới bụng: “miệng nam mô bụng một bồ dao găm”. (Cũng có cách gọi tương tự: “mặt người dạ thú”.)

Hiểu rõ ai đó thì nói: “đi guốc trong bụng”.

Khi phân tán mất tập trung thì gọi là: “chẳng còn lòng dạ nào”.

Lúc lo lắng, bất an thì: “lòng dạ ngổn ngang”.

Cách sống được gọi là: “nết ăn ở”.

Có phần hối lỗi, ân hận cũng gọi là: “ăn năn”.

Động từ có ăn là: “ăn cướp” “ăn cắp” “ăn xin” “ăn ở” “ăn chơi”.

Ghép động từ ăn uống “ăn… lòng” có thể thành thứ rất ý nghĩa như: “ăn ở hai lòng”.

Hứng chịu hậu quả do kẻ khác gây ra gọi là: “bụng làm dạ chịu”

Các tính từ liên quan đến tính cách ác độc, xấu, nham hiểm đều có thể thêm tiền tố “lòng dạ” mà nghĩa không đổi, vd: lòng dạ ác độc=ác độc, lòng dạ nham hiểm=nham hiểm, tương tự với: lòng dạ đen tối, lòng dạ xấu xa. Trong một số trường hợp, tiền tố này cũng có thể thêm với tính từ chỉ tính tốt: lòng dạ tử tế, lòng dạ ngay thẳng (nhưng ít hơn so với nghĩa xấu).

Tạm mới liệt kê được vậy, chừng nào tìm thêm được sẽ kịp thời bổ sung cho xum xuê chủ đề.

IMG_20151127_dudu