Lợi ích trong ngờ vực

Posted on January 16, 2016 by

0


Op-Economica, 16-1-2015 — Trong tiếng Anh có một cách nói về việc tin nhau để sinh ra lợi ích cho cuộc đời tốt đẹp hơn là trao tặng “benefit of the doubt”, có thể hiểu là lợi ích trong ngờ vực.

Ngữ nghĩa gốc gác thì theo Từ điển Cambridge: “to ​decide that you will ​believe someone, ​even though you are not ​sure that what the ​person is saying is ​true”.

Trong cuộc sống và những logic mở rộng của hình thành độ tin cậy xã hội về sau, nó không còn giới hạn như từ điển Cambridge nói nữa. Nó trở thành: nếu có thể tin trong những tình huống không thể thuần túy quy nạp về một giá trị, thì chọn giá trị hay hơn để tin một người. Nó phản ánh lợi ích trong ngờ vực, nhưng hướng tới sự củng cố niềm tin xã hội, điều rất đáng làm. Gọi là “benefit of the doubt” rất hợp lý, bởi nếu xét quy tắc quy nạp, thì chỉ cần một dấu hiệu không ủng hộ, toàn bộ mệnh đề đang được chứng minh bằng quy nạp sẽ bị vô hiệu hóa ngay lập tức.

Một triết lý liên quan cũng rất phổ biến (người cho là của Abraham Lincoln, kẻ thì bảo của Mark Twain; cá nhân tôi thấy kiểu nói này rất hay gặp trong cách nói châm biếm trí tuệ của Mark Twain):

“Better to remain silent and be thought a fool than speak and remove all doubt.”

Đại ý: Thà là im lặng để người khác nghĩ mình là thằng ngu, còn hơn há mồm ra để người ta xóa tan ngờ vực (đúng là mình ngu!).

Trong thành ngữ Việt hiện đại giới trẻ lại hay nói câu, có vẻ cũng liên quan: “Đã ngu còn cố tỏ ra nguy hiểm”. Theo tôi, thực chất câu này có thể hiểu là kẻ nào đó đã làm ngược hoàn toàn với triết lý của Mark Twain – tạm cho là vậy – nói ở trên.

Ở trong khoa học cũng có. Đầu năm, tôi có nhận lời đọc bình duyệt một bài nghiên cứu. Tác giả lập luận một số vấn đề kinh tế, liên quan tới tác động của nợ lên quan hệ rất quen thuộc là principal-agent…

SpringerPlusLogo

Theo tác giả này, vấn đề đặt ra rất chi là oách… Setup cũng rất lằng nhằng… Và tác giả “toán học hóa” toàn bộ đầu bài. Nói chung là về hình thức thì thoạt nhìn cũng “khá ổn”.

Nhưng sau khi dành thời gian đọc đi đọc lại bản thảo, xem kỹ các lập luận logic, những chứng minh toán học, tôi nhận thấy:

  1. Tác giả nói quá, phóng đại về kết quả. Thực ra nó chỉ là một chứng minh xoàng mà học sinh giỏi cấp 3 ở Việt Nam cũng có thể thực hiện mau lẹ (nếu tiếng Anh).
  2. Mặc dù setup hoành tráng, nhưng bài toán lại khá tầm thường.
  3. Tác giả trong khi “review” để hình thành vấn đề đã bỏ qua rất nhiều các luận điểm vững chãi và cả những kết quả chu toàn có từ 3-4 thập niên trước của những đàn anh sừng sỏ.
  4. Dù setup lâm li bi đát, nhưng những giả định thì lại giản lược đi để thực chất đầu bài và đáp án rất dễ giải quyết (đó là lý do tại sao điều 1 lại xảy ra).
  5. Đáp án giải quyết đơn giản, nhưng nó được viết lại dưới dạng các bổ đề và định đề vô cùng rối rắm, trông cực kỳ “nguy hiểm”… Phải nói là cái formalism trình làng mới trông thì hơi rùng rợn
  6. Với kinh tế học, sau khi đặt ra những mệnh đề tạm gọi là plausible reasoning kiểu như G. Polya hay đề cập, thì dữ liệu và chiến lược thực chứng phải được chỉ ra, để ngày nào đó những mệnh đề đó phải được chứng minh là có đất sống. (Các tác giả chu đáo còn tiến hành kiểm định tại chỗ, hoặc là thực hiện kiểu experimental economics.)

Thế là mặc dù rất muốn trao tặng “the benefit of the doubt” nhân dịp đầu năm mới, và sắp đón Tết Nguyên đán, cuối cùng tôi đành REJECT; đồng thời viết 2 bản nhận xét một gửi riêng cho tác giả, một cho Editor, nói rằng nếu các vấn đề […như đã nói trên, và chi tiết hơn…] được giải quyết, thì Editor có thể xem xét lượt tái nộp bản thảo [dù đề nghị là REJECT].

Thành tâm mà nói, thì tôi không tin rằng sẽ có tạp chí tử tế nào chấp thuận bài đó – chứ đừng nói các tạp chí SCIE/SSCI hay Scopus. Nói cách khác, tác giả càng cố viết dài, càng ra sức chứng minh sự “nguy hiểm”, thì những sai lầm và phát biểu khống càng dễ dàng lộ ra. Thậm chí ngay cả mục tiêu vẽ giun thành rồng cũng hiện ra rõ mồn một.

Âu cũng là một kinh nghiệm quý báu. Trong cuộc sống, cũng có rất nhiều trường hợp và tình huống tương tự, có thể thấy được sự phản ánh lại điều vừa bàn.